Biến áp lực môi trường thành cơ hội tăng lợi nhuận thủy sản

Chuyển đổi sang môi chất làm lạnh thân thiện giúp các nhà máy chế biến giảm tới 20% chi phí điện năng vận hành. Ảnh: Huỳnh Lâm.
Chuyển đổi sang môi chất làm lạnh thân thiện giúp các nhà máy chế biến giảm tới 20% chi phí điện năng vận hành. Ảnh: Huỳnh Lâm.

Xanh hóa không phải gánh nặng mà là công cụ quản trị tài chính, giúp doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng, vượt rào cản thuế và tối ưu dòng tiền giữa bão giá.

Khi “xanh” đồng nghĩa với “rẻ”

Lâu nay, tư duy của phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) vẫn coi đầu tư cho môi trường là khoản “chi phí chìm”, làm mỏng đi lợi nhuận. Tuy nhiên, số liệu thực tế từ năm tài chính 2024-2025 đang chứng minh điều ngược lại.

Theo báo cáo rà soát năng lượng mới nhất từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cuộc chuyển đổi công nghệ làm lạnh đang âm thầm tạo ra một cuộc cách mạng về chi phí vận hành. Cụ thể, 73% nhà máy chế biến quy mô lớn đã loại bỏ hoàn toàn môi chất lạnh R22 (vốn phá hủy tầng ozone) để chuyển sang các hệ thống sử dụng NH3, CO2 hoặc NH3/CO2 kết hợp.

Kết quả không chỉ dừng lại ở tấm chứng chỉ “thân thiện môi trường”. Quan trọng hơn, hệ thống mới giúp các nhà máy tiết kiệm tới 20% chi phí điện năng hàng tháng. Trong bối cảnh giá điện sản xuất có xu hướng tăng, con số 20% này chính là phần lãi ròng được giữ lại, giúp doanh nghiệp có thêm dư địa để cạnh tranh về giá bán với các đối thủ từ Ecuador hay Ấn Độ.

Tuy nhiên, bức tranh lợi ích này vẫn chưa lan tỏa đều. Thống kê cho thấy vẫn còn hơn 3.000 kho lạnh vừa và nhỏ trên cả nước đang mắc kẹt với công nghệ cũ. Cái giá phải trả cho sự chậm trễ này không chỉ là hóa đơn tiền điện cao ngất ngưởng, mà còn là nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng của các tập đoàn bán lẻ lớn tại EU – những người đã bắt đầu yêu cầu kiểm toán năng lượng từ nhà cung cấp.

Không chỉ ở nhận thức, sự thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật đồng bộ tại các địa phương như Gia Lai cũng đang gây khó khăn cho việc quản lý môi trường ao nuôi, đặc biệt là với các mô hình nuôi tôm chân trắng mật độ cao. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) thống nhất toàn ngành như một “giấy thông hành” số để theo dõi phát thải dọc theo chuỗi giá trị.

Đừng để tôm Việt chịu tiếng oan “phát thải cao”

Nếu tiết kiệm điện là lợi ích nhìn thấy ngay, thì việc thiếu hụt dữ liệu phát thải lại là “khoản lỗ vô hình” cực lớn. Tại Hội nghị Bảo vệ môi trường trong các hoạt động thủy sản năm 2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã thẳng thắn chỉ ra những thách thức trong việc duy trì đà tăng trưởng 16% (đạt 9,5 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm).

Một trong những thách thức cốt tử là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu. Theo phân tích chuyên sâu từ VASEP, ngành thủy sản Việt Nam đang chịu thiệt thòi lớn vì thiếu “Hệ số phát thải đặc thù” được quốc tế công nhận cho tôm và cá tra.

Hậu quả của việc này là gì? Khi không có dữ liệu chuẩn do chính mình đo đạc và báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chấp nhận để nhà nhập khẩu áp dụng hệ số mặc định của quốc tế. Các hệ số mặc định này thường được tính toán ở mức cao hơn nhiều so với thực tế sản xuất tại Việt Nam.

Điều này đồng nghĩa với việc con tôm Việt Nam bị “gán tội” phát thải cao hơn, dẫn đến nguy cơ chịu thuế carbon cao hơn hoặc bị dán nhãn kém thân thiện hơn trên kệ hàng siêu thị.

Ông Vũ Thái Trường, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, năng lượng và môi trường của UNDP tại Việt Nam, nhận định rằng sự thiếu hụt hệ thống dữ liệu chuẩn hóa và năng lực kỹ thuật là “điểm nghẽn” khiến hàng tỷ USD xuất khẩu trở nên mong manh trước các rào cản kỹ thuật số.

Bài toán chi phí trên từng mét khối nước

Rời khỏi các nhà máy chế biến, bài toán kinh tế tại vùng nuôi cũng nan giải không kém. Báo cáo tham luận từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai mang đến một góc nhìn thực tế từ địa phương. Với tổng diện tích nuôi trồng hơn 5.237 ha, Gia Lai đang đối mặt với áp lực xử lý chất thải từ các mô hình nuôi tôm chân trắng mật độ cao. Chi phí để duy trì các chứng nhận bền vững như ASC hay GlobalGAP hiện chiếm từ 3-5% giá thành sản phẩm. Đây là con số không nhỏ đối với người nông dân. Tuy nhiên, nếu không đầu tư xử lý nước thải và bùn thải bài bản, cái giá phải trả còn đắt hơn: dịch bệnh bùng phát và môi trường nước bị hủy hoại.

Gia Lai đặt mục tiêu kết thúc năm 2025 có 92% khu công nghiệp trên địa bàn sở hữu hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn. Ảnh: PK.
Gia Lai đặt mục tiêu kết thúc năm 2025 có 92% khu công nghiệp trên địa bàn sở hữu hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn. Ảnh: PK.

Thực trạng xả thải trực tiếp ra môi trường do nhận thức hạn chế và thiếu hạ tầng đồng bộ tại Gia Lai (dù tỉnh đặt mục tiêu 92% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn vào cuối năm 2025) là một hồi chuông cảnh báo. Môi trường ô nhiễm sẽ quay lại “cắn” vào chính năng suất nuôi trồng, biến lợi nhuận vụ trước thành chi phí xử lý dịch bệnh cho vụ sau.

Mở khóa dòng vốn “xanh” và sức mạnh cộng đồng

Vậy tiền đâu để chuyển đổi? Đây là câu hỏi lớn nhất. Giải pháp không thể chỉ dựa vào vốn tự có của doanh nghiệp.

Các chuyên gia từ UNDP và Ngân hàng Thế giới (WB) đề xuất Chính phủ cần sớm triển khai các gói tín dụng cho thủy sản xanh. Đây là dòng vốn lãi suất ưu đãi dành riêng cho các dự án lắp đặt điện mặt trời mái nhà xưởng, hệ thống biogas xử lý chất thải ao nuôi, hoặc chuyển đổi công nghệ lạnh. Khi đó, chi phí lãi vay thấp sẽ bù đắp cho chi phí đầu tư ban đầu, giúp doanh nghiệp và hộ nuôi “dễ thở” hơn.

Bên cạnh đó, mô hình đồng quản lý đang thí điểm tại một số địa phương (như mô hình thu gom 3,3 tấn rác thải từ tàu cá) gợi mở một hướng đi về kinh tế tuần hoàn. Rác thải nhựa, vỏ tôm, phế phẩm cá… nếu được thu gom và xử lý đúng cách, hoàn toàn có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác, biến chi phí xử lý rác thành nguồn thu phụ trội.

Mục tiêu xuất khẩu chục triệu USD hay cam kết Net Zero vào năm 2050 không phải là những đích đến tách rời. Chúng là hai mặt của một đồng xu. Để đạt được con số kim ngạch kỷ lục, ngành thủy sản buộc phải giải quyết “món nợ” 0,73 triệu tấn rác thải nhựa đại dương và xây dựng thành công hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) cấp quốc gia.

Đã đến lúc người làm thủy sản, từ thuyền trưởng trên biển, người nông dân bên ao tôm đến giám đốc nhà máy chế biến, cần thay đổi tâm thế. Đừng nhìn việc bảo vệ môi trường như một tấm vé thông hành bắt buộc phải mua. Hãy nhìn nó như một công cụ quản trị tài chính, nơi mỗi kg CO2 cắt giảm được, mỗi kWh điện tiết kiệm được, đều chuyển hóa trực tiếp thành lợi nhuận bền vững.

Hồng Ngọc (Nông Nghiệp Việt Nam)

Bài viết liên quan

Mô hình nuôi tôm

Làm giàu từ nuôi tôm công nghệ cao trên vùng biển bãi ngang

Tận dụng tiềm năng, thế mạnh của vùng bãi ngang ven biển, anh Phan Thành Danh ở thôn 5, xã Triệu Cơ đã mạnh dạn đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao. Với sự kiên trì và tư duy đổi mới, mô hình của anh không chỉ mang lại lợi nhuận cao mà còn mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế tại địa phương.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật