Biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên họ cá chép

Bệnh xuất huyết trên cá.
Bệnh xuất huyết trên cá.

Bệnh trên cá chép luôn là mối lo lớn đối với người nuôi, đặc biệt trong thời điểm giao mùa khi thời tiết thay đổi đột ngột khiến sức đề kháng cá giảm mạnh. Cá chép là đối tượng nuôi phổ biến tại các tỉnh miền Bắc mang lại giá trị kinh tế cao. Nếu không chủ động phòng bệnh, người nuôi có thể chịu thiệt hại lớn do các loại bệnh nguy hiểm xuất hiện theo chu kỳ thời tiết. Do vậy, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên họ cá chép.

Theo đó, đối tượng áp dụng là cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản, thú y thủy sản ở trung ương và địa phương trong việc hướng dẫn, tổ chức triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên họ cá chép; các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất giống và nuôi họ cá chép; các đơn vị nghiên cứu; tổ chức, cá nhân làm công tác xét nghiệm, chẩn đoán bệnh thủy sản, dịch vụ thú y thủy sản tham gia công tác giám sát, chẩn đoán và hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh.

Bệnh xuất huyết mùa xuân (Spring viraemia of carp – SVC)

Bệnh xuất huyết mùa xuân còn có nhiều tên gọi khác như: bệnh phù của cá chép, bệnh đốm đỏ cá chép, bệnh viêm bóng hơi cá chép (Swim bladder inflammation SBI), bệnh vi rút mùa xuân (Spring virus disease). Bệnh do Vi rút Spring viraemia of carp (SVCV) thuộc chi Sprivivirus, họ Rhabdoviridae, có vật chất di truyền là RNA mạch đơn (RNA)

Hầu hết các loài thuộc họ cá chép đều mẫn cảm với vi rút SVC: cá chép (Cyprinus carpio), cá koi (Cyprinus carpio koi), cá diếc (Carassius carassius), cá mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix), cá vàng (Carassius auratus), cá mè hoa (Aristichthys nobilis), cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella). Ngoài ra, đã phân lập được SVCV từ cá các loài cá khác: cá nheo châu Âu (Silurus glanis), cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) và cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus).

Ở các giai đoạn của cá đều có thể bị nhiễm vi rút, trong giai đoạn dễ mẫn cảm nhất với vi rút là cá giống và cá nuôi dưới 01 năm. Các ổ dịch SVC thường xuất hiện ở nhiệt độ từ 110C đến 170C, bệnh hiếm khi xuất hiện ở nhiệt độ dưới 100C và tỷ lệ chết ở cá trưởng thành giảm khi nhiệt độ vượt quá 220C; tỷ lệ chết do SVC có thể đến 70% nhưng thường từ 1 đến 40%; sự bùng phát bệnh có liên quan lớn đến nhiệt độ nước, độ tuổi, tình trạng của cá, mật độ nuôi đặc biệt là yếu tố stress của cá. Bệnh có thể xuất hiện trong quá trình vận chuyển cá, mặc dù trước đó cá không có dấu hiệu lâm sàng của bệnh.

Vi rút SVCV lây truyền theo chiều ngang qua nguồn nước nhiễm vi rút, hoặc từ cá mắc bệnh, cá nhiễm bệnh sang cá khỏe thông qua chất thải, các dịch sinh sản hoặc qua các vật trung gian như các loài ký sinh trùng hút máu như đỉa Piscicola geometra có mang vi rút. Cá bị bệnh nếu sống sót có thể mang vi rút lâu dài.

Về dấu hiệu bệnh lý ở giai đoạn đầu, cá có biểu hiện giảm ăn, bơi lờ đờ, thường tụ thành đám ở tầng mặt hoặc ven bờ ao, phản xạ kém và có hiện tượng mất thăng bằng, đồng thời da cá chuyển màu sẫm, mang nhợt nhạt, các tơ mang dính kết lại, xuất hiện các điểm xuất huyết nhỏ trên da, mang và ở mắt. Khi bệnh tiến triển nặng ở giai đoạn cấp tính, hiện tượng xuất huyết lan rộng trên da, gốc vây và hậu môn, máu loãng có thể chảy ra từ hậu môn. Sau đó cá chết chìm xuống đáy ao hoặc chết đột ngột mà không biểu hiện rõ dấu hiệu bên ngoài, tỷ lệ chết cao. Cùng với đó, bụng cá chướng to, xoang bụng xuất huyết và tích nhiều dịch nhầy, các cơ quan nội tạng bị phù và xuất huyết và bóng hơi teo dần một ngăn, ruột xuất huyết và chứa đầy dịch nhầy.

Bệnh Koi herpesvirus (KHV)

Bệnh Koi herpesvirus. KHV còn có tên gọi là vi rút gây viêm thận và hoại tử mang ở cá chép (carp interstitial nephritis and gill necrosis virus – CNGV). Do virus Cyprinid herpesvirus 3 (CyHV-3) gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho cá. KHV (CyHV-3) thuộc Chi Cyprinivirus và họ Alloherpesviridae; vi rút có nhân ADN mạch đôi.

Các loài cá thuộc họ cá chép và cá chép lai nhiễm KHV: Cyprinus carpio, Carassius auratus, Cyprinus carpio koi. Giai đoạn nhiễm bệnh là tất cả các giai đoạn phát triển của cá, phụ thuộc vào nhiệt độ và mùa vụ; tỷ lệ mắc bệnh có thể lên đến 100% trong quần thể và tỷ lệ chết từ 70% đến 90%. Bệnh có liên quan đến nhiệt độ nước, ở nhiệt độ khoảng 160C đến 290C cá có nguy cơ nhiễm KHV cao hơn, trong điều kiện thí nghiệm, tỷ lệ chết giảm ở nhiệt độ dưới 160C hoặc nhiệt độ trên 300C.

Vi rút KHV truyền lây theo chiều ngang, bệnh lây lan từ cá mắc bệnh hoặc cá nhiễm bệnh sang cá khỏe, từ môi trường nước và từ các vật chủ trung gian như các loài chim ăn cá có mang vi rút KHV vào vùng nuôi, vi rút xâm nhập qua da và mang, đến các cơ quan nội tạng là thận, gan, lá lách, mô ruột. Sau đó vi rút tấn công vào tế bào chất, nhân của tế bào vật chủ; KHV có khả năng tồn tại trong môi trường nước ít nhất 4 giờ.

Dấu hiệu cá nhiễm vi rút KHV đầu tiên là ngạt thở, giảm ăn, bơi gần tầng mặt, mang và da cá có màu sắc nhợt nhạt, mang bị hoại tử, xuất huyết tơ mang, mắt lõm xuống, da mất nhớt, có thể bị hoại tử. Đồng thời, gan, thận sưng to hơn bình thường, có thể bị xuất huyết, màu sắc các cơ quan nội tạng bất thường như nhạt hơn hoặc đậm hơn. Trong trường hợp cấp tính, cá chết rất nhanh mà không thể hiện dấu hiệu tổn thương cơ quan nội tạng.

Giải pháp tối ưu phòng, chống dịch bệnh và khuyến cáo người nuôi

Phòng bệnh là giải pháp tối ưu giúp đàn cá khỏe mạnh
Phòng bệnh là giải pháp tối ưu giúp đàn cá khỏe mạnh

Hiện nay, các bệnh do vi rút chưa có thuốc điều trị, do vậy cần tập trung các biện pháp đảm bảo an toàn sinh học, nâng cao hiệu quả công tác phòng bệnh cho thủy sản. Ngoài áp dụng quy trình nuôi theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, cơ sở nuôi cần thực hiện một số hướng dẫn trong phòng, chống bệnh.

Đối với cơ sở nuôi cá bố mẹ: Nguồn nước cấp vào ao cho qua lưới lọc hai lớp, kích cỡ mắt lưới 40µm và nước phải được xử lý đảm bảo chất lượng theo quy định. Cá bố mẹ có nguồn gốc rõ ràng, đạt yêu cầu về chất lượng, khỏe mạnh, không có dấu hiệu mắc bệnh và đáp ứng quy định về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản và quy định kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản và các quy định hiện hành.

Mặt khác, sử dụng thức ăn không mang mầm bệnh, đủ hàm lượng đạm đáp ứng nhu cầu ở từng giai đoạn phát triển của cá. Các loại thức ăn tổng hợp và tự chế biến phải được bảo quản tốt, tránh để nhiễm nấm mốc và nhiễm khuẩn và thức ăn tươi sống phải được xử lý, đảm bảo không mang mầm bệnh khi cho cá ăn. Sử dụng thuốc, thức ăn, sản phẩm xử lý môi trường theo quy định hiện hành.

Cơ sở sản xuất, ương dưỡng cá giống: Nước cấp vào ao nuôi phải được xử lý đảm bảo chất lượng như cho qua lưới lọc hai lớp, khử trùng bằng hóa chất, chế phẩm được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo an toàn dịch bệnh.

Các bể đẻ, bể vây phải được vệ sinh, khử trùng trước và sau khi sử dụng; sử dụng các dụng cụ riêng cho từng bể và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn sinh học khác như quản lý người, động vật, phương tiện,.. ra vào khu vực sản xuất. Đồng thời, thực hiện quản lý và kiểm soát lượng thức ăn cho cá hợp lý nhằm hạn chế thất thoát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước ao nuôi; thường xuyên theo dõi, kiểm tra để kịp thời điều chỉnh khẩu phần ăn phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng. Đặc biệt, các loại thức ăn tổng hợp cần bảo quản tốt, tránh bị nhiễm nấm mốc và nhiễm khuẩn; thức ăn tươi sống, tự chế biến cần phải được xử lý đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi cho ăn.

Bổ sung các loại vitamin, khoáng,… để tăng sức đề kháng cho cá trước và trong thời kỳ bệnh thường xảy ra và kiểm tra các yếu tố môi trường ao/bể ương; đối với các thông số môi trường vượt ngưỡng cho phép, thực hiện xử lý theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản; thực hiện chế độ thay nước phù hợp cho ao/bể ương hằng ngày nhằm cải thiện chất lượng nước, bảo đảm môi trường sống ổn định và thuận lợi cho cá sinh trưởng; khi cá có dấu hiệu bất thường như bỏ ăn hay bơi lội mất định hướng phải thông báo ngay cho cơ quan chuyên môn để kiểm tra, kịp thời xác định tác nhân gây bệnh.

Các bệnh do vi rút, không có thuốc điều trị đặc hiệu, do vậy chỉ áp dụng các biện pháp phòng bệnh. Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong danh mục thuốc thú y dùng trong thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y và có biện pháp ngăn chặn các vật chủ trung gian như các loài chim ăn cá có thể mang tác nhân gây bệnh vào khu vực nuôi.

Khi xử lý cá bệnh và cá chết phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y; con giống trước khi xuất bán phải thực hiện kiểm dịch theo quy định, đảm bảo không nhiễm mầm bệnh, đặc biệt khuyến khích sử dụng vắc xin phòng bệnh theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y.

Cơ sở nuôi cá thương phẩm: Áp dụng các biện pháp tổng hợp phòng bệnh, quản lý ao nuôi theo quy định của pháp luật về thú y và khuyến cáo của các cơ quan chuyên ngành thủy sản, thú y, trong đó chú ý sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định và mật độ thả nuôi theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo mật độ thích hợp cho cá phát triển tốt.

Sử dụng lượng thức ăn vừa đủ, tránh dư thừa giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, góp phần giảm ô nhiễm môi trường nước, hạn chế sự phát triển và truyền lây của tác nhân gây bệnh. Theo dõi sức khỏe cá hằng ngày về màu sắc, khả năng hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ và kiểm tra màu nước, các chỉ tiêu môi trường, sự xuất hiện của các yếu tố địch hại để phát hiện sớm, xử lý kịp thời; cá ở giai đoạn dưới 5 tháng tuổi và giai đoạn chuyển mùa, có thể lấy mẫu định kỳ để kiểm tra tác nhân gây bệnh trên mang, bóng hơi, gan, thận và cơ. Tăng cường chăm sóc, sử dụng thức ăn bảo đảm dinh dưỡng, bổ sung vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, chế phẩm sinh học,… giúp nâng cao sức đề kháng cho cá.

Chủ cơ sở nuôi cần theo dõi nắm thông tin về tình hình dịch bệnh xảy ra trong khu vực/vùng, tình hình dự báo thời tiết và cảnh báo dịch bệnh của cơ quan chuyên môn để có biện pháp chủ động phòng tránh dịch bệnh. Quản lý tốt môi trường nước trong ao/bể nuôi, thực hiện khử trùng định kỳ bằng hóa chất, chế phẩm được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất hoặc hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo an toàn dịch bệnh.

Bố trí ao/bể trữ nước và xử lý khử trùng nước trước khi cấp cho ao nuôi; khử trùng nguồn nước trước khi thải ra ngoài môi trường. Sử dụng các dụng cụ riêng cho từng ao/bể/lồng, bè nuôi và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng. Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học khác trong quá trình nuôi như quản lý con người, động vật, phương tiện ra vào khu vực ao nuôi; thực hiện vệ sinh, khử trùng khi ra, vào cơ sở và có biện pháp ngăn chặn các vật chủ trung gian các loài chim ăn cá có thể mang tác nhân gây bệnh vào khu vực nuôi.

Cá bệnh, cá chết và chất thải của ao/bể/lồng/bè bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng vôi bột, hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y. Trường hợp ao/bể xảy ra bệnh ở vụ trước, cơ sở nuôi phải xử lý nước đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi xả thải. Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y dùng trong thú y thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y.

Việc áp dụng các biện pháp tổng hợp phòng bệnh, quản lý ao nuôi theo quy định của pháp luật về thú y và khuyến cáo của các cơ quan chuyên ngành thủy sản, thú y giúp người nuôi giảm thiểu rủi ro và thiệt hại lớn do các loại bệnh nguy hiểm xuất hiện trên cá nuôi giúp tăng hiệu quả kinh tế cho bà con trong quá trình nuôi cá chép.

Thanh Thủy (Nông Nghiệp Việt Nam)

Bài viết liên quan

Thu hoạch hải sản nuôi tại vùng biển Lâm Đồng

Kỳ vọng đột phá từ đề án nuôi biển

Sự kiện UBND tỉnh công bố đề án Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (đề án) mới đây, được xem là bước đi mang tính bước ngoặt. Qua đó, tiến tới bước đột phá vùng ven biển là mũi nhọn kinh tế năng động của địa phương.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật