Chiến lược ‘hái tiền tỷ’ nhờ mô hình nuôi thủy sản ngoài khơi

Nuôi trồng thủy sản ngoài khơi không chỉ gia tăng lợi nhuận mà còn thúc đẩy bền vững, giảm rủi ro thiên tai, nâng năng suất, bảo vệ môi trường biển, tạo việc làm.

Khai phá tiềm năng biển xa bờ

Với bờ biển dài hơn 3.260km và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản ngoài khơi (offshore aquaculture). Ảnh: Mohsen Taha.

Với bờ biển dài hơn 3.260km và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, Việt Nam đang đứng trước cơ hội vàng để phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản ngoài khơi (offshore aquaculture). Ảnh: Mohsen Taha.

Theo báo cáo năm 2023 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), mô hình nuôi trồng thủy sản ngoài khơi đòi hỏi vị trí cách bờ tối thiểu 5km, ở độ sâu từ 30 mét trở lên, nơi dòng chảy mạnh và chất lượng nước sạch.

Chuyên gia từ Cơ quan Thủy sản Quốc gia, thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ (NOAA) nhận định, nếu đầu tư đúng mức, nuôi trồng thủy sản ngoài khơi có thể đáp ứng tới 40% nhu cầu cá toàn cầu trong thập kỷ tới.

Đối với Việt Nam, chỉ cần khai thác 5% trong tổng tiềm năng 50.000 km² vùng biển ngoài khơi đã có thể bổ sung thêm 300.000 tấn hải sản, con số mơ ước trong bối cảnh vùng ven bờ ngày càng quá tải và ô nhiễm.

So với nuôi ven bờ, nuôi trồng thủy sản ngoài khơi giúp doanh nghiệp không còn lo cạnh tranh diện tích với du lịch hay đô thị hóa. Vùng biển cách bờ 10 – 15km với nước sạch và oxy dồi dào giúp cá giảm stress, hạn chế dịch bệnh và phân tán chất thải nhanh hơn, bảo vệ hệ sinh thái bền vững.

Lợi ích kinh tế cho thương nhân và nhà đầu tư

Cá nuôi xa bờ tăng trưởng nhanh, đều và có tỷ lệ sống cao hơn. Tại Na Uy, tập đoàn nuôi trồng thủy sản SalMar ASA ghi nhận năng suất nuôi xa bờ cao hơn 15 – 20%, tỷ lệ sống đạt 90 – 95%. Mô hình tương tự tại Việt Nam có thể cho năng suất 25 – 30 tấn/ha/năm, cao hơn khoảng 20 – 25% so với nuôi ven bờ. Cá lớn nhanh giúp doanh nghiệp thu lợi sớm, tăng tỷ suất lợi nhuận.

Khánh Hòa triển khai dự án thí điểm nuôi trồng thủy sản xa bờ công nghệ cao. Ảnh: baochinhphu.vn

Khánh Hòa triển khai dự án thí điểm nuôi trồng thủy sản xa bờ công nghệ cao. Ảnh: baochinhphu.vn

Chất lượng cá cũng được nâng cao nhờ nước sạch, ít dịch bệnh, dễ đạt chuẩn GlobalGAP, ASC, MSC. Theo FAO, giá xuất khẩu thủy sản sạch cao hơn 15 – 20%. Nếu Việt Nam phát triển 5.000 ha nuôi xa bờ vào năm 2030, sản lượng có thể đạt 100.000 tấn cá, tương đương 300 – 400 triệu USD giá trị xuất khẩu, bước đệm quan trọng để chinh phục thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản.

Ngoài ra, mô hình này thúc đẩy phát triển chuỗi cung ứng nội địa: từ sản xuất lồng HDPE, phao composite đến ROV (robot vận hành từ xa) và hệ thống giám sát nước. Mỗi 1.000 ha nuôi tạo việc làm cho 2.500 – 3.000 lao động (UNIDO, 2022), góp phần giảm phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu, tăng nội lực ngành chế tạo thiết bị thủy sản.

Thách thức và giải pháp cần nắm bắt

Tuy tiềm năng lớn, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật và tài chính. Lồng nuôi xa bờ cần chịu được sóng gió cấp 9 – 10, chống ăn mòn muối biển, với chi phí đầu tư 50.000 – 70.000 USD/lồng 100m3. Một trang trại 10 – 20 ha có thể cần 300.000 đến 1 triệu USD ban đầu. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã còn e dè vì thiếu vốn.

Giải pháp là đẩy mạnh hỗ trợ tín dụng: vay dài hạn với lãi suất ưu đãi đối với việc nhập khẩu các thiết bị chuyên dụng như lồng HDPE, hệ thống quan trắc, ROV. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí đầu vào và rút ngắn thời gian hoàn vốn.

Rủi ro thiên tai cũng là thách thức lớn. Mỗi năm, Việt Nam hứng chịu 10 – 12 cơn bão, trong đó 3 – 4 cơn cấp 12 trở lên có thể gây thiệt hại nặng. Doanh nghiệp cần xây dựng bản đồ rủi ro, lựa chọn vị trí nuôi phù hợp (cách bờ 10 -15km, sâu 30 – 50m), thiết lập hệ thống cảnh báo sớm và chuẩn bị phương án chằng chống lồng theo tiêu chuẩn quốc tế.

Về kỹ thuật, doanh nghiệp nên xây dựng chuỗi khép kín từ con giống đến chế biến sâu. Cần hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu trong, ngoài nước để nghiên cứu giống cá phù hợp, tiếp cận công nghệ xử lý nước và giám sát tự động.

Thương hiệu “Cá biển xa bờ Việt Nam” cần được định vị rõ ràng qua chứng nhận quốc tế và minh bạch truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp nên tích cực tham gia các hội chợ quốc tế như Seafood Expo Global để quảng bá sản phẩm, kết nối đối tác và vươn ra thị trường toàn cầu.

Bài viết liên quan

Hiện HTX Ninh Phú nuôi tôm ba giai đoạn rất hiệu quả. Ảnh: KS.

HTX Ninh Phú ‘biến’ phế liệu thành hệ thống nuôi tôm siêu tiết kiệm điện

Trong khi hiện nhiều vùng nuôi đang chật vật vì chi phí đầu vào quá cao, giá thành nuôi tôm của ông Chính hiện chỉ nằm ở mức từ 55.000 – 60.000 đồng cho mỗi ký tôm kích cỡ 100 con. Ngay cả khi theo đuổi những đơn hàng tôm size lớn khoảng 30 con một ký, mức giá thành sản xuất cũng chỉ dừng lại ở con số 80.000 đồng. Đây được xem là mức chi phí thấp giúp người nuôi có thể đứng vững trước những đợt biến động của thị trường.

Nuôi cá lồng trên hồ Thác Bà đã mang lại thu nhập khá cho nhiều hộ dân. Ảnh: Thanh Tiến.

Lào Cai siết chặt quản lí nuôi trồng thủy sản trên sông, hồ

Theo người dân trong khu vực thông tin, không khí quanh hồ nhiều thời điểm trở nên ngột ngạt. Mùi tanh, hôi, nồng bốc lên khiến người dân không thể sinh hoạt bình thường. Có những ngày nắng nóng, gió lớn, mùi hôi lan khắp bản làng, buộc các hộ phải đóng kín cửa, thậm chí rời đi để tránh mùi hôi thối.

Nghề vá lưới

Cần mẫn nghề vá lưới

Nghề vá lưới hình thành từ khi nào, chỉ biết nghề này đã xuất hiện từ rất lâu, gắn bó với nghề đi biển của biết bao thế hệ cha ông. Giữa lúc sản lượng khai thác suy giảm, giá vật tư đầu vào tăng cao, nhưng những người làm nghề vá lưới vẫn bền bỉ, cần mẫn đan chặt từng mắt lưới, buộc chắc từng chiếc phao, mắc chì… để ngư dân yên tâm vươn khơi với mong ước những chuyến biển về bờ đầy ắp cá tôm.

Tái tạo nguồn lợi thủy sản

Tái tạo nguồn lợi thủy sản

Nguồn lợi thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, cung cấp thực phẩm và tạo sinh kế cho một bộ phận dân cư. Tuy nhiên những năm qua, tình trạng đánh bắt tận diệt bằng kích điện, lưới mắt nhỏ… vẫn còn tồn tại, khiến trữ lượng cá tự nhiên suy giảm. Bên cạnh đó, sự thay đổi về môi trường cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của các loài thủy sản.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật