
Những năm gần đây, nhiều hộ dân ở xã Ya Ly tận dụng mặt nước lòng hồ thủy điện để phát triển nuôi cá lồng, từng bước hình thành hướng sản xuất mới, góp phần nâng cao thu nhập và ổn định sinh kế.
Chị Lê Hồng Thanh (46 tuổi), ở làng Chờ, là một trong những hộ sớm triển khai mô hình nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Ya Ly.
Năm 2019, dù chưa có kinh nghiệm, chị Thanh mạnh dạn đầu tư nuôi thử nghiệm 2 lồng cá lóc. Kết quả, sản lượng đạt gần 7 tấn, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận hơn 60 triệu đồng.
Từ hiệu quả bước đầu, chị Thanh tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất. Đến nay, gia đình chị duy trì 6 lồng nuôi với các loại cá có giá trị kinh tế như cá lăng, cá chình, cá diêu hồng. Việc đa dạng cá nuôi giúp phân bổ thời gian thu hoạch, đảm bảo nguồn thu quanh năm.
Trong quá trình nuôi, chị Thanh tận dụng nguồn cá tự nhiên tại lòng hồ làm thức ăn chính cho cá của mình. Chị còn kết hợp bổ sung cám, qua đó giảm chi phí đầu vào. Đồng thời, chị áp dụng các biện pháp phòng bệnh như sử dụng men tiêu hóa, vitamin để nâng cao sức đề kháng cho cá, hạn chế rủi ro trong quá trình nuôi.

Theo chị Thanh, sản lượng bình quân mỗi năm đạt gần 9 tấn cá thương phẩm. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận đạt khoảng 100 triệu đồng.
“Hiện nay, đầu ra khá thuận lợi, thương lái thu mua thường xuyên nên việc tiêu thụ không gặp khó khăn. Nhờ vậy, gia đình yên tâm duy trì sản xuất và tính toán mở rộng thêm quy mô trong thời gian tới”, chị Thanh cho biết.
Mô hình nuôi cá lồng của chị Thanh cho thấy hiệu quả trong việc khai thác diện tích mặt nước lòng hồ, góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho hộ gia đình. Đây cũng là hướng sản xuất đang được nhiều hộ dân trên địa bàn xã quan tâm, nhân rộng.
Đầu năm 2024, anh Huỳnh Văn Tèo (41 tuổi) từ tỉnh Đồng Nai vào làng Tum, xã Ya Ly lập nghiệp, bắt đầu với nghề đánh bắt cá, tôm trên lòng hồ thủy điện Ya Ly. Những ngày lênh đênh trên mặt nước rộng lớn giúp anh có thu nhập tạm đủ trang trải cuộc sống, nhưng không ổn định, phụ thuộc nhiều vào nguồn cá tự nhiên.

Nhận thấy một số hộ trên địa bàn xã phát triển mô hình nuôi cá lồng cho hiệu quả kinh tế khá, anh Tèo bắt đầu tìm hiểu và quyết định chuyển hướng. Dù chưa có kinh nghiệm, anh vẫn mạnh dạn đầu tư, xem đây là cơ hội để thay đổi sinh kế lâu dài.
“Trước đây tôi chỉ đi đánh bắt, thu nhập thất thường, có ngày được, có ngày gần như không có gì. Thấy nhiều hộ nuôi cá lồng ổn định hơn nên tôi quyết định chuyển sang làm, vừa làm vừa học hỏi kinh nghiệm”, anh Tèo chia sẻ.
Đến giữa năm 2024, anh Tèo đầu tư 2 lồng nuôi với 5.000 con cá lăng đuôi đỏ, giống được nhập từ tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu, do thiếu kinh nghiệm, anh gặp nhiều khó khăn trong khâu chăm sóc và quản lý môi trường nước, khiến cá chậm phát triển, có thời điểm bị hao hụt.
Không bỏ cuộc, anh chủ động học hỏi từ các hộ đi trước, đồng thời rút kinh nghiệm qua từng khâu chăm sóc. Nhờ đó, đàn cá dần thích nghi và phát triển ổn định hơn.
Theo anh Tèo, cá lăng phù hợp với điều kiện nguồn nước tại lòng hồ, ít bệnh và dễ chăm sóc. Nguồn thức ăn cho cá được anh tận dụng từ cá nhỏ đánh bắt ngay trên lòng hồ, kết hợp thêm cám để đảm bảo dinh dưỡng, vừa chủ động vừa giảm chi phí.
“Nuôi cá lăng ở đây tôi thấy thuận lợi, nguồn nước sạch, cá ít bệnh. Quan trọng là phải chịu khó theo dõi, cho ăn đều và giữ môi trường nước ổn định thì cá mới lớn nhanh”, anh Tèo cho hay.

Anh Tèo cho biết, cá lăng nuôi khoảng 2 năm đạt trọng lượng từ 2kg/con trở lên là có thể xuất bán. Đầu năm nay, lứa cá đầu tiên của anh cho thu hoạch với sản lượng khoảng 1,2 tấn, giá bán 100 nghìn đồng/kg, mang về cho anh hơn 80 triệu đồng sau khi trừ chi phí.
Toàn xã Ya Ly hiện có 9 hộ nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Ya Ly với tổng số 65 lồng nuôi, sản lượng đạt hơn 153 tấn cá/năm. Mô hình nuôi cá lồng đang từng bước khẳng định hiệu quả, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Phó Chủ tịch UBND xã Ya Ly Đinh Trọng Lịch thông tin, địa phương xác định nuôi cá lồng là hướng sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, nhất là tận dụng diện tích mặt nước lòng hồ.
Thời gian tới, xã sẽ tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân phát triển mô hình theo hướng bền vững, đồng thời phối hợp hỗ trợ kỹ thuật, định hướng liên kết tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
NAY SĂT (Báo Quảng Ngãi)







