Những ‘túi nước ngọt’ ở xứ mặn cù lao

Một trong những hồ nước ngọt quy mô lớn được nhà vườn Cù Lao Dung xây dựng để dự trữ nước kết hợp phát triển du lịch nông nghiệp. Ảnh: Kim Anh.
Một trong những hồ nước ngọt quy mô lớn được nhà vườn Cù Lao Dung xây dựng để dự trữ nước kết hợp phát triển du lịch nông nghiệp. Ảnh: Kim Anh.

Sống trong vùng mặn, nông dân xã Cù Lao Dung đã linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp trữ nước ngọt giúp bảo vệ vững chắc vườn cây trái.

Vào mùa khô, xã Cù Lao Dung là một trong những địa phương ven biển của TP Cần Thơ khan hiếm nước ngọt. Theo ông Nguyễn Văn Đắc – Phó Chủ tịch UBND xã, qua công tác quan trắc, hiện độ mặn trên địa bàn đã vượt 4 phần nghìn, mặn bao trùm toàn xã, đặt ra thách thức cho hơn 9.000ha đất sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, nhờ chủ động điều chỉnh mùa vụ và cơ cấu cây trồng, áp lực sử dụng nước ngọt trong giai đoạn hiện nay không quá lớn. Phần lớn diện tích mía của địa phương đang thu hoạch, không còn nhu cầu lấy nước sản xuất. Các loại cây ăn trái cũng đang trong giai đoạn nuôi dưỡng thân, cành, lá, chờ đầu mùa mưa mới xử lý ra hoa nên nhu cầu sử dụng nước giảm đáng kể.

Đặc biệt, thay vì trông chờ vào các giải pháp điều tiết nguồn nước từ chính quyền địa phương, nhiều nông dân đã chủ động tích trữ nước ngọt, ứng dụng công nghệ cao vào canh tác.

Nhiều năm sống ở vùng đất giàu phù sa nhưng thường xuyên chịu tác động của hạn mặn, ông Trần Văn Phục ở ấp Võ Thành Văn đã sớm nhận ra muốn làm nông nghiệp bền vững, nước ngọt là yếu tố sống còn. Sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm các cây trồng khác nhau, ông Phục đã lai tạo thành công giống mận hồng Sân Tiên có khả năng chịu mặn lên đến 10 phần nghìn.

Hệ thống tưới nước kết hợp bón phân giúp nhà vườn giảm đáng kể thất thoát nước và phân bón. Ảnh: Kim Anh.
Hệ thống tưới nước kết hợp bón phân giúp nhà vườn giảm đáng kể thất thoát nước và phân bón. Ảnh: Kim Anh.

Bên cạnh đó, ông Phục mạnh dạn đầu tư hạ tầng tưới tiêu khá bài bản và chuyên nghiệp. Mùa khô 2015 – 2016, ông đã nghiên cứu và cải tiến hệ thống tưới truyền thống sang tự động hoàn toàn, kết hợp tưới nước và bón phân cùng lúc.

Điểm đặc biệt của hệ thống này là được lắp đặt ngầm dưới mặt đất khoảng 2cm, giúp hạn chế thất thoát nước và phân bón. Mỗi liếp cây trồng được ông thiết kế riêng biệt, lượng phân – nước được phối trộn chính xác theo nhu cầu từng cây và từng thời điểm sinh trưởng. Cách làm này giúp tiết kiệm hơn 30% chi phí so với canh tác truyền thống, đồng thời hạn chế tồn dư phân bón trong trái cây.

Trước nhu cầu mở rộng sản xuất và diễn biến xâm nhập mặn ngày càng cực đoan, ông Phục đang triển khai đào 4 hồ nước ngọt trong khu vườn 40ha của gia đình gồm 1 hồ lớn và 3 hồ nhỏ, tổng diện tích mặt nước khoảng 40.000m2. Nguồn nước ngọt được lấy từ sông Hậu và tích trữ thêm nước mưa. Khi vào cao điểm mùa khô, toàn bộ hệ thống được khép kín, chủ động nước tưới cho vườn cây.

Ngoài ra, tận dụng diện tích mặt hồ, anh Phục đã lên kế hoạch khai thác, phát triển du lịch nông nghiệp bằng cách thả nuôi cá, xây dựng homestay trên hồ, mời gọi du khách đến tham quan, trải nghiệm vườn mận.

“Cù Lao Dung là lòng chảo của mạch nước ngầm. Những năm trước sản xuất không nhiều, nguồn nước còn đủ cung cấp, nhưng nếu 5 năm tới khi mở rộng, nhu cầu nước tăng lên rất cao, nếu không có những hồ nước ngọt nguy cơ cây sẽ chết sạch. Do đó giải pháp xây dựng hồ nước ngọt vẫn là căn cơ”, ông Phục cho biết.

Hầu hết nhà vườn tại xã Cù Lao Dung đều có ao trữ nước ngọt để chủ động nước tưới vào mùa khô. Ảnh: Kim Anh.
Hầu hết nhà vườn tại xã Cù Lao Dung đều có ao trữ nước ngọt để chủ động nước tưới vào mùa khô. Ảnh: Kim Anh.

Ở những vùng trồng cây ăn trái quy mô vừa và nhỏ, bà con cũng chủ động xây dựng những ao lót bạt, tích trữ nước ngọt phục vụ sản xuất.

Ông Trần Văn Thiền (ấp Vàm Hồ A) hiện trồng 4ha thanh nhãn. Ngay từ khi lập vườn, ông đã đào ao trữ nước dung tích khoảng 220m3 kết hợp khoan giếng sâu khoảng 117m để chủ động nước tưới trong mùa khô.

Dù ao trữ nước chưa thật sự lớn nhưng nhờ áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm và giữ ẩm cho đất tốt, vườn nhãn của ông Thiền sinh trưởng ổn định, đảm bảo năng suất và chất lượng trái qua các đợt hạn mặn.

“Có ao trữ nước nhưng do dung tích nhỏ nên cũng có phần thiếu hụt. Tôi chủ động vừa tưới vừa châm. Mỗi ao sử dụng được một lần là tưới giáp vườn, phải thường xuyên bơm nước vào để tích trữ. Mùa khô mất khoảng 3 giờ để tưới hết 4ha, còn bình thường đất được giữ ẩm tốt chỉ cần khoảng 1,5 giờ”, ông Thiền cho hay.

Hiện đa phần nhà vườn ở Cù Lao Dung đều dành khoảng 20 – 30% diện tích đất vườn để đào ao trữ nước. Chính quyền địa phương cũng khuyến khích bà con ứng dụng hệ thống tưới tiết kiệm, tưới tự động nhằm giảm áp lực lên nguồn nước ngầm.

Hệ thống tưới tiết kiệm đang được nhiều nhà vườn Cù Lao Dụng áp dụng để sử dụng hợp lý nguồn nước ngọt. Ảnh: Kim Anh.
Hệ thống tưới tiết kiệm đang được nhiều nhà vườn Cù Lao Dụng áp dụng để sử dụng hợp lý nguồn nước ngọt. Ảnh: Kim Anh.

Thời gian tới, xã Cù Lao Dung tiếp tục cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với thích ứng biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. Trong đó sẽ quy hoạch lại vùng sản xuất, bố trí thêm ao trữ nước, nạo vét kênh mương, xây dựng các công trình thủy lợi đa chức năng vừa ngăn mặn, vừa trữ ngọt.

Hiện toàn xã có 7 cống lớn trên tuyến đê bao biển và gần 200 cống trong hệ thống đê bao sông. Các công trình được quản lý, vận hành chặt chẽ, mùa hạn mặn đều đóng kín hoàn toàn. Đối với các cống trong đê bao sông, việc vận hành được giao cho khu dân cư quản lý theo sự thống nhất của ấp, tuân thủ quy chế chỉ mở cống lấy nước khi độ mặn dưới 2‰. Nhờ đó, công tác quản lý, khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn diễn ra thuận lợi, nhận được sự đồng thuận cao từ người dân.

Kim Anh (Nông Nghiệp Việt Nam)

 

Bài viết liên quan

Các mô hình nuôi tôm vi sinh hiện nay được người dân An Giang đẩy mạnh áp dụng. Ảnh: TC.

Hiệu quả cao từ mô hình nuôi tôm vi sinh ở An Giang

Nuôi tôm đang được nhiều hộ dân ở tỉnh An Giang lựa chọn. Mô hình này không chỉ giúp bảo vệ môi trường ao nuôi, hạn chế sử dụng hóa chất mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế, mở hướng phát triển bền vững cho ngành thủy sản địa phương.

Nuôi cá lồng trên sông

Phát triển bền vững nghề nuôi cá lồng

Cá lồng trên sông Đà ở khu vực huyện Thanh Thủy trước đây khi sở hữu hàng chục lồng nuôi. Ông cho biết: Giai đoạn 2010-2015 có thể coi là thời kỳ hoàng kim của nghề nuôi cá lồng ở Phú Thọ. Lúc cao điểm có tới hơn 3.500 lồng nuôi trên sông Đà, sông Bứa, sông Lô và các hồ, đập.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật