Nuôi lươn không bùn bằng công nghệ tuần hoàn nước giúp tăng lợi nhuận

An Giang – Mô hình nuôi lươn không bùn ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước giúp giảm dịch bệnh, tăng năng suất, tiết kiệm chi phí và mang lại lợi nhuận cao cho nông dân ĐBSCL.

Những năm gần đây, mô hình nuôi lươn không bùn đang trở thành hướng đi triển vọng tại nhiều tỉnh ĐBSCL. Không cần diện tích lớn, tận dụng tốt nguồn tài nguyên địa phương, dễ chăm sóc, hiệu quả cao và đặc biệt là áp dụng kỹ thuật tuần hoàn nước, mô hình này không chỉ giúp giảm tỷ lệ hao hụt con giống, hạn chế dịch bệnh mà còn nâng cao năng suất, mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Lươn nuôi không bùn phát triển khỏe mạnh trong bể xi măng có lót giá thể tre và kiểm soát nước chặt chẽ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Lươn nuôi không bùn phát triển khỏe mạnh trong bể xi măng có lót giá thể tre và kiểm soát nước chặt chẽ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang, ông Lê Hữu Huân đầu tư mô hình nuôi lươn không bùn trên diện tích chỉ 30m2 gồm 2 bể nuôi. Với 4.000 con lươn giống, sau một năm chăm sóc, ông thu hoạch hơn 1 tấn lươn thương phẩm, bán ra thị trường và lãi hơn 60 triệu đồng. Điểm nổi bật là toàn bộ quy trình nuôi được ông Huân áp dụng kỹ thuật kiểm soát nước hiện đại, giúp giảm thiểu mầm bệnh và tăng tỷ lệ sống của lươn.

Còn tại xã Phú Bình, ông Lâm Văn Xuân được nhiều người biết đến như một “triệu phú lươn”. Khởi nghiệp từ năm 2018, ông Xuân từng thất bại do nuôi bằng bể bạt nilon có đất, khó vệ sinh và lươn nuôi dễ bị nhiễm bệnh. Không bỏ cuộc, ông chuyển sang nuôi lươn không bùn trong bể xi măng lót gạch men, đầu tư hệ thống thay nước kết hợp sục khí liên tục vào ban đêm và tạt vi sinh định kỳ để sát trùng.

Hiện tại, ông Xuân sở hữu 8 bể xi măng nuôi lươn thương phẩm và 10 bể ươm giống trên diện tích 250m2. Với sản lượng ổn định và đầu ra vững chắc, mỗi năm ông thu về trên 300 triệu đồng nhờ bán lươn thương phẩm và con giống.

Nuôi lươn không bùn giúp tiết kiệm diện tích và giảm công chăm sóc. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Nuôi lươn không bùn giúp tiết kiệm diện tích và giảm công chăm sóc. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Theo ông Xuân, điểm mấu chốt của mô hình nuôi lươn không bùn là phải kiểm soát chặt chẽ nguồn nước. Ông sử dụng nước sông đã xử lý qua ao lắng, thay nước hai lần mỗi ngày, sau bữa cho lươn ăn khoảng hai giờ. Suốt quá trình nuôi, các bể được sục oxy từ 20 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau. Cách làm này giúp môi trường nuôi luôn ổn định, lươn khỏe mạnh và phát triển nhanh.

Ngoài ra, ông còn áp dụng phương pháp giá thể bằng vỉ tre 3 lớp, mỗi lớp cách nhau một viên gạch ống, vừa tạo không gian sống tự nhiên cho lươn vừa dễ dàng vệ sinh. Con giống được chọn từ lươn sinh sản bán nhân tạo, có chất lượng tốt, tỷ lệ sống cao. Thức ăn sử dụng là loại công nghiệp có độ đạm 40% trong 6 tháng đầu, sau đó giảm còn 30% để tạo màu đẹp cho lươn khi xuất bán.

Sau 12-13 tháng thả nuôi, lươn đạt trọng lượng 4-5 con/kg, giá bán bình quân khoảng 220.000 đồng/kg, mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ khác.

Bà Huỳnh Đào Nguyên, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang, cho biết, thời gian qua Trung tâm đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ, tập huấn kỹ thuật và hướng dẫn nông dân xây dựng mô hình nuôi lươn không bùn theo hướng an toàn sinh học, tiết kiệm nước và gắn với chuỗi liên kết tiêu thụ bền vững.

Thu hoạch lươn thương phẩm trong bể nuôi không bùn tại một trang trại ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước ở An Giang. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Thu hoạch lươn thương phẩm trong bể nuôi không bùn tại một trang trại ứng dụng công nghệ tuần hoàn nước ở An Giang. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Hiện nay, Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang đang vận động nhân rộng mô hình nuôi lươn không bùn nhằm thay thế dần phương thức nuôi truyền thống trước đây, góp phần ổn định sản lượng, đảm bảo vệ sinh thực phẩm và nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.

Theo đánh giá từ các chuyên gia thủy sản, mô hình nuôi lươn không bùn mật độ cao kết hợp kỹ thuật tuần hoàn nước không chỉ giúp tiết kiệm diện tích, nhân lực mà còn có khả năng mở rộng thành quy mô trang trại hoặc HTX liên kết, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân tại ĐBSCL.

Bài viết liên quan

Hiện HTX Ninh Phú nuôi tôm ba giai đoạn rất hiệu quả. Ảnh: KS.

HTX Ninh Phú ‘biến’ phế liệu thành hệ thống nuôi tôm siêu tiết kiệm điện

Trong khi hiện nhiều vùng nuôi đang chật vật vì chi phí đầu vào quá cao, giá thành nuôi tôm của ông Chính hiện chỉ nằm ở mức từ 55.000 – 60.000 đồng cho mỗi ký tôm kích cỡ 100 con. Ngay cả khi theo đuổi những đơn hàng tôm size lớn khoảng 30 con một ký, mức giá thành sản xuất cũng chỉ dừng lại ở con số 80.000 đồng. Đây được xem là mức chi phí thấp giúp người nuôi có thể đứng vững trước những đợt biến động của thị trường.

Nuôi cá lồng trên hồ Thác Bà đã mang lại thu nhập khá cho nhiều hộ dân. Ảnh: Thanh Tiến.

Lào Cai siết chặt quản lí nuôi trồng thủy sản trên sông, hồ

Theo người dân trong khu vực thông tin, không khí quanh hồ nhiều thời điểm trở nên ngột ngạt. Mùi tanh, hôi, nồng bốc lên khiến người dân không thể sinh hoạt bình thường. Có những ngày nắng nóng, gió lớn, mùi hôi lan khắp bản làng, buộc các hộ phải đóng kín cửa, thậm chí rời đi để tránh mùi hôi thối.

Nghề vá lưới

Cần mẫn nghề vá lưới

Nghề vá lưới hình thành từ khi nào, chỉ biết nghề này đã xuất hiện từ rất lâu, gắn bó với nghề đi biển của biết bao thế hệ cha ông. Giữa lúc sản lượng khai thác suy giảm, giá vật tư đầu vào tăng cao, nhưng những người làm nghề vá lưới vẫn bền bỉ, cần mẫn đan chặt từng mắt lưới, buộc chắc từng chiếc phao, mắc chì… để ngư dân yên tâm vươn khơi với mong ước những chuyến biển về bờ đầy ắp cá tôm.

Tái tạo nguồn lợi thủy sản

Tái tạo nguồn lợi thủy sản

Nguồn lợi thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, cung cấp thực phẩm và tạo sinh kế cho một bộ phận dân cư. Tuy nhiên những năm qua, tình trạng đánh bắt tận diệt bằng kích điện, lưới mắt nhỏ… vẫn còn tồn tại, khiến trữ lượng cá tự nhiên suy giảm. Bên cạnh đó, sự thay đổi về môi trường cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của các loài thủy sản.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật