Nuôi thủy sản lòng hồ thủy lợi, thủy điện: Tiềm năng còn bỏ ngỏ

Hồ thủy điện
Tiềm năng nuôi cá nước ngọt lòng hồ Ngàn Trươi đang bị bỏ ngỏ. Ảnh: Thanh Nga.

Trong số 353 hồ chứa thủy lợi, thủy điện, tỉnh Hà Tĩnh có đến cả chục hồ chứa dung tích lớn có tiềm năng nuôi thủy sản nước ngọt cần được ‘đánh thức’.

Tiềm năng lớn

Việt Nam có hệ thống hồ chứa đa dạng và quy mô lớn, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát điện, cấp nước, điều tiết lũ mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với sinh kế cộng đồng người dân vùng hồ, đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa.

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hồ chứa tuy không xây dựng cho mục đích thủy sản nhưng sau khi hoàn thành, hầu hết các hồ trên cả nước đã hình thành các hoạt động nuôi trồng thủy sản với nhiều hình thức như nuôi cá mặt nước lớn, nuôi eo ngách (nuôi chắn đăng) và nuôi lồng bè. Đối tượng nuôi chủ yếu là các loài cá bản địa như trắm (trắm cỏ và trắm đen), trôi, mè (mè trắng và mè hoa)… và cá rô phi, diêu hồng đối với nuôi lồng bè. Tại một số hồ chứa trên vùng núi cao, nơi có nhiệt độ thấp còn có thể phát triển nuôi các đối tượng cá nước lạnh như cá tầm, cá hồi.

Diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) hồ chứa hiện đạt hàng chục nghìn ha, bao gồm diện tích thả nuôi bán tự nhiên tại các hồ nhỏ và diện tích vùng mặt nước bố trí lồng nuôi tại các hồ lớn ở một số tỉnh như Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Nghệ An, Tuyên Quang…

Đối với tỉnh Hà Tĩnh, trên địa bàn hiện có 348 hồ chứa nước thủy lợi với tổng dung tích chứa trên 1,55 tỷ m3 nước và 5 hồ chứa thủy điện (Hố Hô, Đá Hàn, Hương Sơn, Ngàn Trươi, Kẽ Gỗ). Trong đó, có hơn chục hồ chứa thủy lợi, thủy điện được đánh giá “thiên thời, địa lợi”, thích hợp để phát triển NTTS lòng hồ như hồ Ngàn Trươi, Kẻ Gỗ, Sông Rác; hồ thủy điện Hương Sơn, Hố Hô… Tuy nhiên, thực tế tiềm năng các hồ chứa này đang bị bỏ ngỏ.

Ông Bùi Tuấn Sơn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh nhìn nhận: “Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có số lượng hồ đập và trữ lượng nước lớn nhất nhì cả nước, trong đó hồ Ngàn Trươi với dung tích 775 triệu m3 được ví như “mỏ vàng”, nếu không khai thác đa mục tiêu, trong đó có hoạt động NTTS thì rất lãng phí”.

Theo ông, từ trước đến nay nuôi thuỷ sản nước ngọt tại Hà Tĩnh vẫn chưa hình thành được vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, theo hướng sản xuất hàng hoá. Phương thức nuôi đang manh mún, nhỏ lẻ, cơ sở vật chất chưa được đầu tư tương xứng với tiềm năng. Đối tượng nuôi chủ yếu là cá truyền thống giá trị kinh tế thấp, phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, năng suất thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao.

Đặc biệt, quy hoạch NTTS hồ chứa chưa được chú trọng. Tài nguyên hồ chứa vẫn ưu tiên cho mục đích thủy lợi và thủy điện. Ngoài ra, việc cấp giấy phép cho các hoạt động NTTS trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, thủy điện gặp nhiều khó khăn (hiện chỉ có 1 đơn vị được cấp phép nuôi thử nghiệm với quy mô 2ha trong thời hạn 2 năm tại hồ Ngàn Trươi).

Hồ ngàn trươi
Mặt nước lòng hồ Ngàn Trươi khoảng 40km2 thích hợp nuôi các loài cá nước ngọt truyền thống, thậm chí cả cá tầm. Ảnh: Thanh Nga.

Sau nữa, thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu nội địa, mang tính nhỏ lẻ tại các chợ địa phương nên giá bán không cao, không ổn định, tiêu thụ chậm.

“Lợi thế, tài nguyên, con người đều có, công nghệ nuôi hiện nay cũng đa dạng nên không có lý gì không mạnh dạn khuyến khích phát triển. Nếu thành công, NTTS nước ngọt sẽ tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân và tăng thu ngân sách địa phương”, ông Bùi Tuấn Sơn nói.

Cần chính sách tạo cú hích

Hồ Ngàn Trươi (xã Vũ Quang) với dung tích chứa 775 triệu m3 nước là hồ chứa lớn nhất tỉnh Hà Tĩnh và là một trong ba hồ chứa lớn nhất Việt Nam đến thời điểm hiện nay (chỉ sau hồ Dầu Tiếng và hồ Cửa Đạt). Theo ông Lê Văn Hùng, phụ trách Cụm Quản lý công trình hồ chứa nước Ngàn Trươi (Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng thủy lợi 3), mục tiêu xây dựng hồ Ngàn Trươi ưu tiên số một là cắt giảm lũ, cấp nước tưới sản xuất cho 32.000ha đất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, sau đó đến phát điện, cải tạo môi trường…

Hồ thủy điện ngàn trươi
Sau hồ Ngàn Trươi, hồ Kẻ Gỗ, Sông Trí, Tàu Voi, thủy điện Hương Sơn… đều có lợi thế phát triển NTTS kết hợp khai thác du lịch. Ảnh: Thanh Nga.

“Ngoài các nhiệm vụ chính trên, chúng tôi rất ủng hộ phát triển đa mục tiêu của hồ chứa như NTTS, phát triển du lịch sinh thái vùng lòng hồ… Nếu nhận được sự đồng thuận của các bộ ngành cũng như tỉnh Hà Tĩnh bằng các chính sách tạo cú hích, gần 40km2 mặt nước lòng hồ Ngàn Trươi sẽ phát huy rất hiệu quả tiềm năng hiện có, góp phần đảm bảo sinh kế, tăng thu ngân sách. Ban sẽ đồng hành, tham giá ý kiến trong việc đánh giá tác động nhằm đảm bảo an toàn hồ chứa và phát triển kinh tế”, ông Hùng chia sẻ.

Chung quan điểm, Giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang Nguyễn Danh Kỳ cũng ủng hộ chiến lược khai thác đa mục tiêu giá trị của hồ Ngàn Trươi. Tuy nhiên, ông cho rằng, việc lựa chọn nuôi con gì, quy mô, cách làm đều phải xây dựng đề án một cách bài bản, đúng quy định pháp luật.

“Ngoài mặt thoáng giữa lòng hồ, rất nhiều nhánh nước ngọt từ rừng đổ về hồ cũng rất phù hợp để nuôi cá lồng bè. Chúng tôi ủng hộ chủ trương phát triển NTTS tại hồ Ngàn Trươi, song cần phải có tổ chức (doanh nghiệp, hợp tác xã) có đầy đủ tư cách pháp nhân, có chuyên môn về NTTS thực hiện. Có như vậy, cơ quan quản lý nhà nước mới quản lý, giám sát chặt chẽ được, hạn chế các tác động tiêu cực tới rừng, môi trường… trong khu vực”, ông Kỳ nói.

Theo ông, vùng nước hồ Ngàn Trươi thích hợp nuôi cá mè, cá trê, cá trắm, diêu hồng và cả cá tầm. Với tiềm năng lớn như vậy, Nhà nước cần xây dựng kế hoạch khai thác để tránh lãng phí. Tất nhiên, song hành với sản xuất phải tìm kiếm đầu ra đảm bảo ổn định. Khi giá trị đa mục tiêu được khai thác, hơn 50.000 nhân khẩu của 27 thôn vùng đệm Vườn Quốc gia Vũ Quang sẽ có thêm nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập, từ đó giảm áp lực tác động vào 57.000ha rừng do đơn vị quản lý, bảo vệ.

Nuôi thủy sản hồ thủy điện
Việc mạnh dạn khai thác tiềm năng, lợi thế NTTS nước ngọt hồ thủy lợi, thủy điện chắc chắn sẽ giải quyết vấn đề việc làm và tăng thu cho ngân sách địa phương. Ảnh: Thanh Nga.

Với hồ thủy điện, hầu hết xây dựng ở vùng đầu nguồn, nước lạnh nên thích hợp nuôi các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá tầm, cá hồi. Ông Nguyễn Huy Tuấn, Phó Giám đốc Công ty cổ phần Thủy điện Hương Sơn bày tỏ, mong muốn của đơn vị là Trung ương, tỉnh có cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp quản lý hồ thủy điện phát triển đa ngành nghề, trong đó có nuôi thủy sản nước ngọt để đơn vị có căn cứ xây dựng phương án đầu tư.

“Hiện nay bình quân mỗi năm chúng tôi nộp ngân sách khoảng 50 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 50 lao động địa phương. Nếu Nhà nước có cơ chế thúc đẩy NTTS lòng hồ thủy điện, tôi tin thu nhập của lao động và đóng góp ngân sách sẽ tăng lên đáng kể”, ông Tuấn nhận định.

Hoạt động NTTS kết hợp với mục đích khác như tưới tiêu, điều tiết thủy lợi trên địa bàn Hà Tĩnh đã được triển khai trên 31 hồ chứa, song chủ yếu ở hồ vừa và nhỏ, sản lượng hàng năm ước đạt khoảng 500 tấn cá thương phẩm các loại. Riêng nuôi lồng bè trên hồ đập nước ngọt, đến nay có 80 lồng bè nuôi với tổng thể tích hơn 15.700m3, tập trung tại các xã Vũ Quang, Kỳ Hoa, Kỳ Xuân, Cẩm Lạc…, sản lượng đạt trên 200 tấn. Đối tượng nuôi chủ yếu là cá trắm, cá mè, diêu hồng, cá lăng, cá leo, cá chép giòn.

Thanh Nga (Nông Nghiệp Việt Nam)

Bài viết liên quan

Mô hình nuôi tôm

Làm giàu từ nuôi tôm công nghệ cao trên vùng biển bãi ngang

Tận dụng tiềm năng, thế mạnh của vùng bãi ngang ven biển, anh Phan Thành Danh ở thôn 5, xã Triệu Cơ đã mạnh dạn đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao. Với sự kiên trì và tư duy đổi mới, mô hình của anh không chỉ mang lại lợi nhuận cao mà còn mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế tại địa phương.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật