
Đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhấn mạnh việc kiểm soát dịch bệnh từ gốc là giải pháp cốt lõi để nâng cao chất lượng và giá trị ngành tôm.
Phụ lục
ToggleQuy trình kiểm soát an toàn sinh học tại trại giống
Tại hội thảo “Quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam” vừa diễn ra tại tỉnh Khánh Hòa vào cuối tuần qua, bà Bùi Thị Việt Hằng, Phó Trưởng phòng Quản lý bệnh thủy sản (Cục Thủy sản và Kiểm ngư) đã có bài trình bày quan trọng về công tác đảm bảo an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh trong cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống.
Theo số liệu chia sẻ, tính đến năm 2025, cả nước có 1.910 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ, cung ứng ra thị trường 167,58 tỷ con giống, bao gồm 116,89 tỷ tôm thẻ và 50,69 tỷ tôm sú.
Dù năng lực sản xuất rất lớn nhưng hiện tại mới chỉ có 83 cơ sở được cấp giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh tôm nước lợ, trong đó, Trung ương cấp 5 giấy chứng nhận và địa phương cấp 78 giấy chứng nhận. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc thắt chặt các biện pháp an toàn dịch bệnh nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao uy tín cho con tôm giống Việt Nam cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương và xuất khẩu.
Hành lang pháp lý hiện nay đã thiết lập khung kỹ thuật và quy định rõ ràng trách nhiệm của các cơ sở. Cụ thể, Điều 24 Luật Thủy sản quy định các cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản phải áp dụng hệ thống kiểm soát chất lượng và an toàn sinh học. Điều kiện này tiếp tục được cụ thể hóa tại Điều 9 Nghị định 41/2026/NĐ-CP. Các văn bản hướng dẫn như Thông tư số 24/2022/TT-BNNPTNT cùng các thông tư sửa đổi bổ sung (Thông tư số 20/2026/TT-BNNMT, 22/2026/TT-BNNMT) đã quy định chi tiết về cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật. Bên cạnh đó, Quyết định số 169/QĐ-TCTS-NTTS ngày 9/3/2020 ban hành tài liệu hướng dẫn thực hành an toàn sinh học trong sản xuất, ương dưỡng tôm nước lợ.
Sự đồng bộ pháp lý này giúp kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh theo đúng tinh thần Điều 3 Luật Thú y. Điều này càng trở nên quan trọng khi cơ quan thẩm quyền các nước nhập khẩu đang có xu hướng tăng cường thanh tra trực tiếp tại nước xuất khẩu, gia tăng giám sát an toàn dịch bệnh song hành với an toàn thực phẩm.
Để ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập, phát tán và giảm thiểu thiệt hại kinh tế, các trại giống cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc nhận diện và kiểm soát mối nguy ngay từ khâu thiết kế xây dựng. Trước hết, mặt bằng trại phải bố trí thành các khu vực riêng biệt bao gồm khu tôm bố mẹ, khu ương ấu trùng, khu xử lý nước, khu cách ly và khu xử lý chất thải. Hệ thống cấp và thoát nước phải thiết lập riêng, tuyệt đối không dùng chung nước cấp với nước thải và toàn bộ nguồn nước phải được xử lý triệt để trước khi cấp vào bể nuôi hoặc xả thải ra môi trường bên ngoài. Song song đó, việc kiểm soát người ra vào bằng hố sát trùng, sử dụng bảo hộ lao động riêng và hạn chế khách tham quan là bắt buộc để ngăn chặn các tác nhân lây nhiễm từ bên ngoài.

Quá trình vận hành hàng ngày đòi hỏi sự tỉ mỉ trong việc quản lý từ con người, trang thiết bị cho đến nguồn thức ăn. Tôm bố mẹ và con giống đưa vào sản xuất phải có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch và xét nghiệm bệnh theo quy định. Các cơ sở sử dụng tôm sạch bệnh (SPF) hoặc tôm đã qua kiểm tra đạt yêu cầu, tiến hành cách ly tôm mới nhập và nghiêm cấm sử dụng nguồn tôm không rõ nguồn gốc. Đối với các yếu tố đầu vào khác, người nuôi phải thực hiện vệ sinh bể, khử trùng dụng cụ sản xuất, kiểm soát động vật gây hại và quản lý, khử trùng kỹ lưỡng nguồn thức ăn tươi sống trước khi cho ăn. Toàn bộ nhật ký theo dõi tăng trưởng, diễn biến môi trường, tình hình dịch bệnh, cho ăn và hồ sơ sản xuất phải được lưu trữ đầy đủ để phục vụ truy xuất nguồn gốc.
Giám sát dịch bệnh chủ động
Công tác giám sát dịch bệnh tại cơ sở cần được xây dựng thành kế hoạch rõ ràng, xác định cụ thể đối tượng, phạm vi, thời gian và các loại bệnh cần giám sát. Việc lấy mẫu kiểm tra phải tuân thủ nguyên tắc đại diện, đúng quy trình kỹ thuật chuyên ngành để tránh nhiễm chéo hoặc làm hư hỏng mẫu. Tần suất lấy mẫu được quy định tối thiểu 2 lần trong 12 tháng đối với cơ sở đăng ký an toàn dịch bệnh, và tối thiểu 1 lần trong 12 tháng đối với cơ sở duy trì điều kiện.
Các mẫu này phải được xét nghiệm tại phòng thử nghiệm được công nhận hoặc chỉ định, áp dụng phương pháp phù hợp cho từng loại bệnh và lưu hồ sơ đầy đủ. Khi có dấu hiệu dịch bệnh xuất hiện, cơ sở phải kích hoạt ngay kế hoạch ứng phó thông qua nguồn lực dự phòng đã chuẩn bị sẵn để tiến hành cách ly, tiêu độc khử trùng triệt để và báo cáo kịp thời cho cơ quan chuyên môn.

Để hỗ trợ các cơ sở sản xuất chuyển đổi và thích ứng tốt với các tiêu chuẩn an toàn, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đồng hành và giám sát vĩ mô cho toàn ngành. Theo đó, các cơ quan chức năng sẽ tích cực tuyên truyền, tập huấn và hướng dẫn các cơ sở sản xuất giống chủ động xây dựng mô hình cơ sở cũng như vùng an toàn dịch bệnh. Đồng thời, năng lực giám sát dịch bệnh sẽ được tăng cường lấy mẫu định kỳ và bồi dưỡng, nâng cấp năng lực xét nghiệm bệnh ngay tại địa phương.
Bên cạnh công tác kiểm tra tại chỗ, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giám sát dịch bệnh quốc gia là vô cùng cần thiết nhằm tạo ra mạng lưới kết nối, chia sẻ thông tin dịch tễ một cách nhanh chóng. Công tác quản lý lưu thông cũng sẽ được thắt chặt để nâng cao hiệu quả kiểm dịch, kiểm soát nghiêm ngặt quá trình vận chuyển tôm giống giữa các vùng miền. Cuối cùng, các cơ quan chuyên trách sẽ tập trung ban hành các tài liệu hướng dẫn cụ thể giúp các địa phương và chủ trang trại có thể chủ động phản ứng nhanh khi có dịch bệnh xảy ra.
Kim Sơ (Nông Nghiệp Việt Nam)






