Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm siêu thâm canh 3 giai đoạn tuần hoàn nước đã được đầu tư và thử nghiệm thành công tại nhiều địa phương của tỉnh Cà Mau.
Phụ lục
ToggleNuôi tôm không xả thải
Ngành nuôi trồng thủy sản là một trong những thế mạnh nổi bật của Việt Nam. Tuy nhiên, gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của ngành này đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp thủy sản và các hộ nuôi tôm đang gấp rút tìm kiếm giải pháp để xử lý nước thải. Nhiều địa phương có diện tích nuôi tôm lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện đang chú trọng vào việc nghiên cứu và từng bước áp dụng mô hình nuôi tôm không xả thải nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.

Tại Cà Mau, ngành nuôi tôm công nghiệp đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Thế nhưng, ý thức bảo vệ môi trường của người dân vẫn còn hạn chế, dẫn đến tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống cũng như sức khỏe cộng đồng.
Cụ thể, các loại chất thải như bùn, thức ăn thừa và phân tôm không được xử lý đúng cách, sau một thời gian sẽ tích tụ và tạo ra nhiều chất độc hại. Nước thải từ quá trình nuôi và chế biến thường được xả trực tiếp ra môi trường, gây tác động tiêu cực đến con người và vật nuôi xung quanh.
Trước tình hình đáng báo động này, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II thực hiện thành công mô hình nuôi tôm không xả thải tại huyện Cái Nước và Đầm Dơi. Mô hình này, hay còn gọi là mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 3 giai đoạn, sử dụng công nghệ tuần hoàn, ít thay nước và đảm bảo an toàn sinh học, đã được đầu tư và thử nghiệm lần đầu tiên tại tỉnh Cà Mau.

Ông Phan Tấn Thanh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau, cho biết rằng đơn vị đã đề xuất Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ cho tỉnh một dự án nghiên cứu công nghệ xử lý nước tuần hoàn và bùn thải trong các ao nuôi tôm siêu thâm canh. Từ năm 2022 đến nay, Sở cũng đã tiến hành thử nghiệm mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm theo quy trình ba giai đoạn, sử dụng công nghệ tuần hoàn với lượng nước thay đổi ít và đảm bảo an toàn sinh học.
Ông Thanh nhận định rằng đây là một mô hình nuôi trồng hoàn toàn không xả thải, hoặc nếu có thì cũng được xử lý để đảm bảo chất lượng nước đạt tiêu chuẩn, góp phần bảo vệ môi trường.
Đề tài 3R cho nuôi trồng thủy sản thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng hạ lưu Đồng bằng sông Cửu Long – 3R4CSA, do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II thực hiện tại ấp Rau Dừa, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước từ tháng 5/2023 đến nay.

Kể từ khi áp dụng thành công mô hình nuôi tôm không xả thải, các cơ quan chức năng đã giảm bớt lo ngại về ô nhiễm nguồn nước. Theo phản hồi từ người dân huyện Cái Nước, mô hình này mang lại hiệu quả cao, giúp giảm chi phí hóa chất xử lý, nhân công và chi phí thay nước cho ao nuôi, đồng thời năng suất tôm nuôi tăng hơn 20% so với trước đây.
Ông Huỳnh Thái Nguyên, chủ một cơ sở nuôi tôm tại ấp Rau Dừa, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, chia sẻ: “Sau khi tham gia dự án từ Sở Khoa học và Công nghệ và đưa vào vận hành, tôi thấy tôm nuôi phát triển rất tốt, giảm được nhiều chi phí như hóa chất xử lý nước đầu vào và nhân công. Hệ thống tuần hoàn khép kín không xả thải mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt là trong việc quản lý dịch bệnh trên tôm nuôi và bảo vệ môi trường bên ngoài.”Theo ông Nguyên, mô hình nuôi trồng này cần diện tích khoảng 4.500m2 để thiết lập các ao nuôi và ao dèo. Hệ thống tuần hoàn nước sẽ bao gồm 2 ao chứa giá thể, 1 ao nuôi cá và 3 ao nuôi rong biển với tổng diện tích lên tới 6.500m2, cùng với 1 ao dự trữ nước để hỗ trợ khi có sự cố rò rỉ trong hệ thống.
Tổng chi phí đầu tư cho mô hình này lên đến hơn 2,1 tỷ đồng, gấp ba lần so với phương pháp nuôi truyền thống. Tuy nhiên, công nghệ này mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, giúp kiểm soát tốt môi trường, nâng cao tỷ lệ sống sót của tôm và đảm bảo an toàn sinh học. So với các phương pháp trước đây, mô hình nuôi tôm bằng hệ thống tuần hoàn nước 3 giai đoạn có lợi nhuận cao hơn khoảng 30%.
Người dân tham gia vào mô hình cho biết rằng hệ thống nuôi tuần hoàn khép kín này cho phép tái sử dụng hơn 90% lượng nước, từ đó giảm thiểu nguy cơ lây lan bệnh tật qua nguồn nước. Tuy nhiên, mầm bệnh vẫn có thể lây lan từ các dụng cụ sản xuất trong từng giai đoạn nuôi, vì vậy việc vệ sinh và sử dụng dụng cụ riêng biệt là rất cần thiết để tránh nhiễm chéo. Các ao cũng cần được xử lý và rào kín để kiểm soát các vật chủ trung gian như cua, còng và cá tạp có thể lây bệnh trong quá trình nuôi.

Ngoài ra, nước thay thế cũng phải được tiệt trùng và loại bỏ các vật chủ trung gian. An toàn sinh học cho người lao động cũng cần được thiết lập để ngăn ngừa sự lây lan của mầm bệnh, hạn chế tối đa những đối tượng có khả năng mang mầm bệnh như khách tham quan. Người lao động trực tiếp cũng cần có dụng cụ riêng và áp dụng các biện pháp phòng ngừa để giảm thiểu nguy cơ lây lan mầm bệnh.
Thành tựu lớn trong ngành tôm
Ông Lê Đăng Thanh từ Phòng NN-PTNT huyện Đầm Dơi chia sẻ rằng, công nghệ nuôi tôm tuần hoàn không xả thải là một kỹ thuật tiên tiến giúp giảm thiểu chi phí sản xuất. Năng suất tôm nuôi có thể đạt từ 60 đến 70 tấn trên mỗi hecta cho mỗi vụ, và trung bình mỗi năm có thể thực hiện từ 6 đến 8 vụ, qua đó nâng cao sản lượng trên diện tích ao nuôi. Đặc biệt, lượng carbon phát thải từ 1kg tôm rất thấp, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững của ngành tôm trong tương lai. Người tiêu dùng cũng không cần lo lắng về việc tồn dư hóa chất hay kháng sinh trong sản phẩm tôm nuôi. Đây thực sự là một bước tiến lớn trong lĩnh vực nuôi tôm.

Tuy nhiên, do chi phí đầu tư cho công nghệ này khá cao, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau đã đề xuất với UBND tỉnh để thành lập quỹ phát triển khoa học công nghệ, nhằm hỗ trợ người nuôi tôm vay vốn ưu đãi cho việc đầu tư.
Ông Phan Tấn Thanh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau, cho biết thêm rằng Sở sẽ tiếp tục duy trì và triển khai mô hình công nghệ nuôi tôm tuần hoàn không xả thải trong các vụ tới, nhằm theo dõi và đánh giá hiệu quả để khuyến khích nhân rộng. Trong quá trình thử nghiệm và nghiên cứu, các nhà khoa học sẽ hoàn thiện công nghệ và tiến hành đánh giá kết quả.
Trọng Linh – Nông nghiệp Việt Nam







