
Cả ngàn ha tôm càng xanh chuyên canh hay xen lúa ở huyện Nho Quan (cũ) đến vụ nông dân vẫn phụ thuộc vào giống nhập từ trong Nam, nhưng có một người nghĩ khác.
Phụ lục
ToggleCú chuyển hướng của một HTX
Đó chính là anh Bùi Văn Lượng – Giám đốc HTX Thanh niên Nuôi trồng thủy sản Văn Phong, xã Nho Quan, tỉnh Ninh Bình – người tiên phong trong vùng xây dựng cơ sở sản xuất tôm giống càng xanh.
Trang trại của anh ngoài hai ao nuôi tôm thương phẩm còn có một dãy lán sản xuất giống mới được dựng ngay trên bờ. Suốt ngày đêm từ đó phát ra những tiếng ù ù của máy sục khí oxy. Anh cầm vợt vớt mấy cái trong bể rồi đổ vào chậu đưa cho tôi xem. Trên đó là hàng trăm, hàng ngàn ấu trùng tôm nhỏ còn hơn cả con muỗi đang bám chi chít vào thành chậu.
HTX của anh có 18 thành viên, nuôi trồng trên diện tích 20ha mặt nước ven sông Hoàng Long. Trước đây họ đều thả các đối tượng cá truyền thống như trắm, trôi, mè, chép nhưng rồi nhận thấy đầu tư lớn, hiệu quả nhỏ nên đã dần từ bỏ để chuyển sang nuôi tôm càng xanh.
Với hơn 1ha ao, anh Lượng thống kê trong 6 năm mình tham gia nuôi trồng thủy sản thì hơn 4 năm là nuôi cá, đầu tư mỗi năm khoảng 1,4 tỷ đồng nhưng chỉ thu được khoảng 150 triệu đồng lãi, 80% chi phí là thức ăn, phần còn lại là giống, điện, thuốc. Bởi thế không nói quá, nông dân nuôi cá chẳng khác nào nuôi nhà máy sản xuất thức ăn. Trong khi hơn 1 năm nuôi tôm càng xanh, đầu tư ít nhưng lợi nhuận gần bằng cả 4 năm nuôi cá.
Đầu năm 2025, anh Lượng mua 30 vạn tôm post (ấu trùng tôm đã hình thành đầy đủ các bộ phận) về ương, bán được 350kg tôm giống cho bà con, thu hơn 100 triệu đồng. Số còn lại anh thả xuống ao nhà, cuối vụ đạt 2,5 tấn tôm thương phẩm, thu hơn 400 triệu đồng. Riêng vụ tôm ấy, tổng thu của anh hơn 500 triệu đồng, trong khi chi phí chỉ mất 180 triệu đồng, tính ra lãi hơn 320 triệu đồng. Được đà, anh còn thử nghiệm nuôi qua đông. Hiện tôm đang sinh trưởng, phát triển khá, dự tính khoảng gần hai tháng nữa xuất bán sẽ biết cụ thể kết quả.
“Tại sao tôi nuôi tôm càng xanh lại lãi cao? Bởi chính là tận dụng được thức ăn tự chế từ cá tạp, bột ngô và cám gạo. Lúc tôm còn bé tôi cho ăn cám công nghiệp nhưng từ 3 tháng tuổi trở đi thì chuyển sang 90% thức ăn tự chế, ban đầu phải xay, phải nấu nhưng sắp tới tôi sẽ dùng máy ép viên, cho ăn sống luôn”, anh Lượng phân tích.
Trong quá trình nuôi tôm càng xanh cộng với làm thêm dịch vụ như thế anh nhận thấy nhu cầu giống của bà con Nho Quan rất lớn. Vả lại tôm giống vận chuyển từ Nam ra Bắc đường xa khiến chúng bị yếu đi, tỷ lệ hao hụt nhiều nên anh quyết định phải đầu tư sản xuất giống ngay tại chỗ. Nghĩ là làm, cuối năm 2025 anh đã xây 8 bể trong nhà kín và mua hệ thống máy tạo oxy với tổng đầu tư 300 triệu đồng.

Một ngày ở trại giống
Kỹ thuật viên Đặng Thanh Hoàng của Công ty Sản xuất tôm giống càng xanh Hải Tú (xã Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) đã ăn nghỉ tại HTX Thanh niên Nuôi trồng thủy sản Văn Phong suốt 2 tuần để trợ giúp anh Lượng trong thời gian đầu chuyển giao quy trình kỹ thuật.
Anh Hoàng chia sẻ: “Công ty chúng tôi cho tôm bố mẹ đẻ rồi nuôi từ ấu trùng lên tôm post và xuất bán cả hai giai đoạn là ấu trùng hay tôm post tùy nhu cầu của khách. Thời tiết trong Nam thuận lợi hơn cho việc sản xuất tôm giống bởi nước sẵn, nắng nóng quanh năm nên ấp artemia (một loại giáp xác làm thức ăn cho tôm giống) chỉ 12 giờ là nở, trong khi ngoài Bắc mùa này phải hơn 30 giờ ấp mới nở, ấu trùng tôm cũng phát triển khá chậm. Thêm vào đó, dụng cụ phục vụ cho ngành sản xuất tôm giống ở ngoài Bắc không có sẵn nên nhiều thứ phải gửi từ trong Nam ra…”.
Công việc hàng ngày của anh Hoàng là sáng 6h30 cho ấu trùng tôm ăn, vệ sinh bể và các dụng cụ, 8h30 thăm xem thức ăn trong bể còn hay hết, 12h30 cho ấu trùng ăn bữa chiều, 2h30, 4h30 lại đi thăm xem thức ăn trong bể còn hay hết. Nếu để artemia thừa, chúng sẽ lớn lên, mọc lông, gây hại cho môi trường nước. Khi ấu trùng tôm lớn thành tôm post còn phải cho ăn một bữa khuya nữa.
Nước mặn mua từ biển được chuyển về dùng để ương ấu trùng tôm, sau khoảng 30 ngày sẽ ra tôm post. Ở giai đoạn này kỹ thuật viên cần phải rút dần tỷ lệ nước mặn từ 12 phần ngàn xuống 5 phần ngàn để có thể thả tôm post xuống các ao nước ngọt trong quá trình nông dân mua nuôi thương phẩm sau này.
Bằng công nghệ, người ta có thể chủ động xử lý để đạt tỷ lệ hơn 90% tôm giống là đực bởi khi nuôi chúng lớn nhanh hơn hẳn tôm cái. Với 350gram ấu trùng tôm, nếu thành công HTX có thể cho ra 500 vạn tôm post, đủ cung cấp cho diện tích nuôi 50ha.

Anh Lê Như Quỳnh, cán bộ phụ trách nông nghiệp của xã Nho Quan, đồng thời cũng là người nuôi tôm càng xanh thương phẩm cho biết nghề này ở quê mình đang đạt lợi nhuận ở mức 50%, đồng nghĩa cứ bán 2 tấn sẽ lãi 1 tấn. Tỷ lệ sinh lời ấy nếu nuôi cá truyền thống thì không bao giờ có thể đạt được.
“Nuôi cá rất dễ bán nhà bởi đầu tư lớn, thất thoát nhiều, dịch bệnh lắm, cứ 2 – 3 năm phải làm lại bờ ao một lần bởi chúng phá bờ. Trong khi đó, tôm càng xanh ít bị bệnh, lại có khả năng tận dụng thức ăn tự nhiên nên chi phí thức ăn khá thấp, giá giống cũng không cao.
Quan trọng nhất là phải quản lý tốt đàn tôm trong giai đoạn 1 tháng đầu sau khi xuống giống để không bị hao hụt, thất thoát. Nếu HTX Thanh niên Nuôi trồng thủy sản Văn Phong thành công trong việc sản xuất tôm giống thì Nho Quan sẽ chủ động được một phần đầu vào, chi phí giảm, hao hụt giảm”, anh Quỳnh phân tích.
Cũng theo anh Quỳnh, thời gian đầu mới nuôi tôm càng xanh, chuyện tiêu thụ không hề dễ dàng. Thấy con tôm càng xanh đầu to, thân ngắn, người dân mua về ăn thử theo kiểu bỏ hết đầu vì nghĩ nơi đó chứa phân, chỉ ăn mỗi phần thân và liền chê là nó ít thịt. Nhưng về sau càng ăn họ lại càng thích bởi thịt tôm càng xanh chắc, ngọt, ngon chỉ sau mỗi tôm sú, gạch lại rất nhiều ở trên đầu, ăn béo và ngậy chẳng kém gì gạch cua”.
Trên địa bàn huyện Nho Quan (cũ) có hơn 3.000ha đất trũng cấy một vụ lúa cùng hàng ngàn ha ao đầm chuyên canh thủy sản. Vài năm trở lại đây, bên cạnh thả các loại cá truyền thống, nhiều nông dân đã chuyển sang nuôi tôm càng xanh, đặc biệt tập trung ở xã Thanh Sơn.
Dương Đình Tường (Nông Nghiệp Việt Nam)







