Xuất khẩu ghẹ của Việt Nam tăng nhẹ, thị trường phân hoá mạnh

Xuất khẩu ghẹ
Xuất khẩu ghẹ

Năm 2025, xuất khẩu ghẹ của việt Nam đạt gần 86 triệu USD, tăng gần 6% so với năm 2024.

Điểm nổi bật của năm 2025 là cấu trúc thị trường “lệch” mạnh về Mỹ, chiếm hơn 81% tổng kim ngạch ghẹ của Việt Nam, tăng 10% so với năm trước đó. Ở chiều ngược lại, một số thị trường châu Á sụt giảm đáng kể, khiến tổng tăng trưởng cả năm chỉ ở mức khiêm tốn.

Mỹ tiếp tục là thị trường chi phối XK ghẹ của Việt Nam

Trong bức tranh nhập khẩu ghẹ toàn cầu, Mỹ là thị trường “đầu kéo”. Hiện Mỹ là nước nhập khẩu ghẹ lớn nhất thế giới, đặc biệt là các sản phẩm ghẹ đông lạnh, với giá trị nhập khẩu khoảng gần 1,1 tỷ USD, bỏ xa các thị trường kế tiếp như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…

Riêng với nhóm các sản phẩm ghẹ xanh, Mỹ đang là điểm đến quan trọng, có ảnh hưởng lớn dến nhu cầu toàn cầu và nguồn cung chủ yếu đến từ các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, XK sang Mỹ năm qua đang gặp nhiều thách thức. Tháng 8/2025, Cục quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA) đã công bố kết quả so sánh theo Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA) năm 2025 trên Công báo Liên bang. Theo đó, NOAA cho biết các quyết định “so sánh tương đương” có thể dẫn tới hạn chế nhập khẩu đối với sản phẩm từ các nghề cá/ngư cụ không đáp ứng yêu cầu bảo vệ động vật có vú biển. Đây là biến số lớn cho giai đoạn 2026.

Mặc dù, hiện tại lệnh cấm nhập khẩu ghẹ từ Việt Nam, Philippines, Indonesia và Sri Lanka đã được tạm hoãn cho đến khi Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA/NMFS) hoàn tất việc xem xét lại các “khả năng so sánh tương đương” (comparability findings) – tức là đánh giá về mức độ tương đương trong việc bảo vệ động vật có vú biển giữa các quốc gia xuất khẩu và Mỹ. Nhưng kết quả cuối cùng phụ thuộc vào chất lượng thông tin mà Việt Nam gửi tới NOAA/NMFS.

EU và CPTPP – “điểm sáng” mới cho ghẹ Việt Nam

Nếu Mỹ là trụ cột về quy mô, thì EU đang là điểm sáng về tốc độ. Năm 2025, xuất khẩu ghẹ sang EU đạt hơn 3 triệu USD, tăng 102%. Trong khối thị trường này, Pháp là nước NK nhiều nhất với hơn 3 triệu USD, tăng 112% (đứng thứ 2 trong top thị trường ghẹ của Việt Nam, sau Mỹ).

Cùng với EU, khối CPTPP cũng ghi nhận tín hiệu tích cực với mức tăng gần 29%. Đây là dư địa quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh sản phẩm chế biến sâu/giá trị gia tăng, tận dụng ưu đãi thuế quan và xu hướng tiêu dùng ưu tiên sản phẩm có truy xuất nguồn gốc rõ ràng.

Ở chiều ngược lại, XK ghẹ sang Trung Quốc & Hồng Kông giảm mạnh 48%, chỉ đạt gần 3 triệu USD. Một số thị trường khác cũng giảm hoặc biến động (như Nhật Bản, Canada…), phản ánh cạnh tranh và thay đổi nhu cầu theo kênh tiêu thụ.

Nhu cầu ghẹ trên thị trường thế giới tăng nhưng nguồn cung biến động do phụ thuộc khai thác

Nhu cầu cua/ghẹ trên thị trường thế giới tiếp tục tăng trong 2025, được hỗ trợ bởi xu hướng người tiêu dùng quan tâm nhóm thủy sản giá trị cao; trong khi nguồn cung chủ yếu đến từ khai thác nên dễ biến động, khác với tôm vốn dựa nhiều vào nuôi trồng. Thực tế này thường tạo ra các chu kỳ “giá – nguồn nguyên liệu – tiến độ giao hàng” khó đoán, đòi hỏi doanh nghiệp chủ động kế hoạch nguyên liệu và hợp đồng.

Dự báo năm 2026

Hiện tại, việc tuân thủ MMPA đang tạo ra nhiều vướng mắc cho DN về thủ tục XK, làm hạn chế hoạt động XK không chỉ của riêng ngành ghẹ. Bên cạnh đó, việc tập trung quá lớn vào thị trường Mỹ, đang khiến cho hoạt động XK ghẹ của Việt Nam dễ “chao đảo”.

Dự báp, nếu yêu cầu liên quan MMPA được chính phủ Mỹ thắt chặt hoặc phát sinh gián đoạn thủ tục, xuất khẩu sang Mỹ có thể biến động, buộc doanh nghiệp phải “xoay trục” nhanh hơn sang EU/CPTPP và các thị trường khác. Xu hướng nhu cầu tiêu thụ cua ghẹ trên thị trường thế giới tăng trong năm 2025 sẽ tiếp tục duy trì trong năm 2026.

VASEP

Bài viết liên quan

Các mô hình nuôi tôm vi sinh hiện nay được người dân An Giang đẩy mạnh áp dụng. Ảnh: TC.

Hiệu quả cao từ mô hình nuôi tôm vi sinh ở An Giang

Nuôi tôm đang được nhiều hộ dân ở tỉnh An Giang lựa chọn. Mô hình này không chỉ giúp bảo vệ môi trường ao nuôi, hạn chế sử dụng hóa chất mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế, mở hướng phát triển bền vững cho ngành thủy sản địa phương.

Nuôi cá lồng trên sông

Phát triển bền vững nghề nuôi cá lồng

Cá lồng trên sông Đà ở khu vực huyện Thanh Thủy trước đây khi sở hữu hàng chục lồng nuôi. Ông cho biết: Giai đoạn 2010-2015 có thể coi là thời kỳ hoàng kim của nghề nuôi cá lồng ở Phú Thọ. Lúc cao điểm có tới hơn 3.500 lồng nuôi trên sông Đà, sông Bứa, sông Lô và các hồ, đập.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật