Giữ vùng nuôi trước ‘hai gọng kìm’ dịch bệnh và thị trường

Ông Nguyễn Minh Nhũ, hộ nuôi tôm công nghệ cao tại xã Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật mà đến từ biến động giá bán. Ảnh: Minh Đảm.
Ông Nguyễn Minh Nhũ, hộ nuôi tôm công nghệ cao tại xã Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật mà đến từ biến động giá bán. Ảnh: Minh Đảm.

Nuôi thủy sản tăng trưởng khá trong nửa đầu năm 2026, song dịch bệnh và giá tôm giảm đang buộc ngành chức năng siết chặt kiểm soát từ con giống đến vùng nuôi.

Giá tôm giảm, người nuôi đổi chiến thuật

Sáu tháng đầu năm 2026, bức tranh thủy sản của tỉnh Vĩnh Long ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi diện tích thả nuôi và sản lượng thu hoạch tiếp tục tăng. Tuy nhiên, phía sau những con số khả quan là áp lực không nhỏ từ giá tôm giảm, chi phí đầu vào cao và nguy cơ dịch bệnh luôn hiện hữu tại các vùng nuôi.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long, năm 2026 toàn tỉnh đặt kế hoạch thả nuôi 92.420 ha thủy sản. Đến giữa năm, nông dân đã thả nuôi khoảng 78.600 ha, đạt 85,01% kế hoạch, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thủy sản nước mặn, lợ tiếp tục giữ vai trò chủ lực với khoảng 70.700 ha; riêng tôm sú đạt 45.630 ha, tương đương 99,2% kế hoạch năm.

Không chỉ tăng về diện tích, sản lượng thủy sản toàn tỉnh cũng duy trì đà tăng trưởng. Sáu tháng đầu năm, Vĩnh Long thu hoạch khoảng 352.770 tấn thủy sản. Đáng chú ý, sản lượng tôm thẻ chân trắng nuôi ứng dụng công nghệ cao đạt 88.010 tấn, tương đương 52,18% kế hoạch năm. Kết quả này cho thấy người nuôi ngày càng chủ động hơn trong ứng dụng kỹ thuật, quản lý môi trường ao nuôi và kiểm soát rủi ro dịch bệnh.

Tuy vậy, kết quả sản xuất khả quan chưa đi cùng tín hiệu thuận lợi từ thị trường. Giá tôm giảm mạnh đang khiến nhiều hộ nuôi, nhất là các hộ đầu tư mô hình công nghệ cao, phải tính toán lại nhịp thả nuôi, thời điểm thu hoạch và phương án quay vòng vốn.

Ông Nguyễn Minh Nhũ, hộ nuôi tôm công nghệ cao tại xã Bảo Thạnh, tỉnh Vĩnh Long, hiện quản lý 21 ha ao nuôi. Trong nửa đầu năm 2026, trang trại của ông đã xuất bán khoảng 250 tấn tôm thương phẩm.

Theo ông Nhũ, nhờ đầu tư đồng bộ hệ thống oxy đáy, xử lý nước, kiểm soát con giống từ các đơn vị uy tín và áp dụng quy trình kỹ thuật chặt chẽ, tỷ lệ nuôi đạt của mô hình công nghệ cao cao hơn so với ao đất truyền thống. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật mà đến từ biến động giá bán.

Ông Nhũ cho biết, giá tôm đã giảm khoảng 40.000 – 50.000 đồng/kg so với đầu năm. Tôm cỡ 30 con/kg hiện chỉ còn quanh mức 130.000 đồng/kg, trong khi chi phí sản xuất dao động 100.000 – 110.000 đồng/kg.

Theo phản ánh của người nuôi, sức tiêu thụ tại một số thị trường xuất khẩu và các đầu mối lớn trong nước chậm hơn so với kỳ vọng. Trước tình hình này, nhiều hộ đã chủ động thu hoạch ở cỡ 40 – 50 con/kg nhằm rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí đầu vào, hạn chế rủi ro và quay vòng vốn nhanh hơn.

Chủ động “gác cửa” dịch bệnh từ vùng nuôi

Trong khi thị trường còn nhiều biến động, dịch bệnh vẫn là nguy cơ thường trực đối với ngành nuôi tôm. Theo thống kê của ngành chức năng, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh ghi nhận 581 ha ao nuôi bị thiệt hại. Trong đó, tôm thẻ chân trắng chiếm 324 ha, tôm sú 243 ha. Tôm chết chủ yếu ở giai đoạn 20 – 50 ngày tuổi, liên quan đến các bệnh đốm trắng, đỏ thân, gan tụy và yếu tố môi trường.

Trong khi thị trường còn nhiều biến động, dịch bệnh vẫn là nguy cơ thường trực đối với ngành nuôi tôm. Ảnh: Minh Đảm.
Trong khi thị trường còn nhiều biến động, dịch bệnh vẫn là nguy cơ thường trực đối với ngành nuôi tôm. Ảnh: Minh Đảm.

Ông Phạm Minh Truyền, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long cho biết, Sở đã ban hành và triển khai kế hoạch về phòng, chống dịch bệnh thủy sản năm 2026 với tổng kinh phí hơn 11,149 tỷ đồng.

Theo ông Truyền, mục tiêu của kế hoạch là nâng cao năng lực cảnh báo, giám sát chủ động, phát hiện sớm ổ dịch, khoanh vùng nhanh và xử lý kịp thời ngay từ khi mới phát sinh, hạn chế lây lan trên diện rộng, qua đó bảo vệ sản xuất và giảm thiểu thiệt hại cho người nuôi.

Năm 2026, ngành nông nghiệp Vĩnh Long tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Trước hết là giám sát dịch bệnh ngay từ khâu con giống, thông qua việc thu và phân tích 180 mẫu tôm giống, gồm 120 mẫu nhập tỉnh và 60 mẫu sản xuất trong tỉnh. Đây là khâu quan trọng nhằm phát hiện sớm các tác nhân nguy hiểm trước khi tôm được đưa vào ao nuôi thương phẩm.

Cùng với đó, ngành chức năng tổ chức giám sát vùng nuôi thương phẩm với 360 mẫu tôm tại các vùng nuôi đại diện, nhằm theo dõi diễn biến môi trường, mầm bệnh và kịp thời cảnh báo cho người dân. Tỉnh cũng chuẩn bị nguồn vật tư phục vụ xử lý dịch bệnh khi có tình huống phát sinh, gồm 30 tấn Chlorine từ ngân sách địa phương và 90 tấn Chlorine từ nguồn dự trữ quốc gia.

Ngoài giám sát và chuẩn bị vật tư, ngành nông nghiệp dự kiến tổ chức 70 lớp tập huấn cho khoảng 3.120 lượt người nuôi, kết hợp tọa đàm, truyền thông và hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở để phổ biến quy trình nuôi an toàn sinh học.

Xây dựng hệ thống an toàn sinh học nhiều lớp

Ở góc độ sản xuất giống, thạc sĩ Cao Tuấn Anh, Công ty cổ phần Thủy sản Cần Thơ cho rằng, kiểm soát dịch bệnh phải bắt đầu từ trại giống. Nhiều tác nhân gây bệnh có thể xuất hiện ngay từ khâu sản xuất giống nếu quy trình an toàn sinh học không được kiểm soát nghiêm ngặt. Trong đó, đáng chú ý là bệnh đốm trắng, bệnh hoại tử gan tụy cấp và EHP – những tác nhân có thể gây thiệt hại lớn cho người nuôi, làm tôm chết nhanh, chậm lớn hoặc kéo dài thời gian nuôi.

Thu hoạch tôm thẻ chân trắng từ mô hình nuôi công nghệ cao tại xã Thạnh Hải, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.
Thu hoạch tôm thẻ chân trắng từ mô hình nuôi công nghệ cao tại xã Thạnh Hải, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Minh Đảm.

Ông cho rằng, người nuôi thường chú trọng xử lý môi trường ao nuôi nhưng đôi khi chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng con giống. Trong khi đó, nếu mầm bệnh đã tồn tại từ giai đoạn sản xuất giống, nguy cơ bùng phát dịch trong quá trình nuôi thương phẩm sẽ rất cao.

Để hạn chế rủi ro, các cơ sở sản xuất giống cần xây dựng hệ thống an toàn sinh học nhiều lớp. Trước hết, 100% tôm bố mẹ phải được xét nghiệm PCR đối với các bệnh nguy hiểm trước khi đưa vào sản xuất. Nguồn thức ăn tươi sống cần được kiểm soát chặt, hạn chế sử dụng nguồn khai thác tự nhiên có nguy cơ mang mầm bệnh, đồng thời phải được xử lý phù hợp trước khi sử dụng.

Bên cạnh đó, nauplius (giai đoạn ấu trùng đầu tiên sau khi trứng nở) cần được sát khuẩn trước khi chuyển sang bể ương. Nguồn nước cấp phải được xử lý qua hệ thống lắng lọc, khử trùng bằng Chlorine và ozone trước khi đưa vào sản xuất. Các khu nuôi tôm bố mẹ, khu cho đẻ, khu lưu giữ nauplius và khu ương cần được bố trí tách biệt nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm chéo.

Theo thạc sĩ Cao Tuấn Anh, người nuôi cần thay đổi tư duy trong lựa chọn con giống. Không nên chỉ quan tâm đến giá bán mà cần ưu tiên cơ sở sản xuất uy tín, có kết quả xét nghiệm PCR rõ ràng đối với từng lô giống, đàn giống đồng đều và kích cỡ từ PL12 trở lên.

Minh Đảm ( Nông Nghiệp Việt Nam)

Bài viết liên quan

Xuất khẩu cá rô phi

Xuất khẩu cá rô phi Việt Nam T5/2026

Xuất khẩu cá rô phi Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 5/2026 với kim ngạch đạt 14 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi đạt 62 triệu USD, tăng trưởng 101% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của ngành hàng này trên thị trường quốc tế.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật