Nuôi tôm ôm ‘mớ’ lo: Liên kết nguồn cung vật tư dài hạn

Ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, việc điều chỉnh giá vật tư đầu vào là diễn biến theo quy luật cung - cầu và cạnh tranh của thị trường. Ảnh: Hồng Thắm.
Ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, việc điều chỉnh giá vật tư đầu vào là diễn biến theo quy luật cung – cầu và cạnh tranh của thị trường. Ảnh: Hồng Thắm.

Giá vật tư đầu vào, đặc biệt thức ăn tăng, gây áp lực lên người nuôi tôm. Cơ quan quản lý khuyến cáo điều chỉnh kỹ thuật, liên kết nguồn cung vật tư dài hạn.

Giá vật tư đầu vào vận hành theo cơ chế thị trường

Ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, thời gian qua, giá nhiên liệu tăng đã làm chi phí nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản như ngô, đậu tương, bột cá, lúa mì tăng đáng kể. Chi phí logistics gia tăng có thể khiến giá thức ăn thủy sản tăng khoảng 7-10%, kéo giá thành nuôi tăng thêm 5-10%. Bên cạnh đó, giá hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh và con giống cũng có xu hướng tăng khoảng 10-15% do chi phí sản xuất và vận chuyển tăng cao.

“Giá nhiên liệu tăng mạnh đã làm gia tăng chi phí sản xuất, vận chuyển và logistics, tạo áp lực lên các doanh nghiệp sản xuất giống và thức ăn thủy sản. Trong bối cảnh chi phí đầu vào leo thang, nhiều doanh nghiệp đã điều chỉnh giá bán để bù đắp chi phí, qua đó ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản năm 2026 nói chung và nuôi tôm nói riêng.

Không chỉ vậy, chi phí vận hành tăng còn đặt ra thách thức đối với cả doanh nghiệp và người nuôi trong việc cân đối nguồn vốn, quản lý dòng tiền và duy trì hiệu quả sản xuất”, ông Khôi cho biết.

Ông Khôi nhấn mạnh, việc điều chỉnh giá vật tư đầu vào là diễn biến theo quy luật cung – cầu và cạnh tranh của thị trường. Trước những biến động này, cơ quan quản lý đã, đang và sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, kịp thời cung cấp thông tin, hướng dẫn kỹ thuật và hỗ trợ người nuôi chủ động thích ứng nhằm giảm thiểu tác động đến sản xuất.

Điều chỉnh quy trình kỹ thuật phù hợp

Theo ông Khôi, để chủ động trong kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản năm 2026, góp phần ổn định sản xuất và hài hòa lợi ích giữa người dân với doanh nghiệp, các địa phương cần xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động giá nhiên liệu và vật tư đầu vào, hạn chế tối đa nguy cơ gián đoạn chuỗi sản xuất.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh các giải pháp tiết giảm chi phí sản xuất. Người nuôi và doanh nghiệp cần tối ưu hoạt động vận chuyển, logistics, quản lý vật tư đầu vào, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong quá trình sản xuất. Việc điều chỉnh kế hoạch sản xuất, mật độ thả nuôi và quy trình kỹ thuật phù hợp với diễn biến thị trường cũng là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Theo ông Khôi, việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiết kiệm năng lượng không chỉ giúp giảm chi phí vận hành mà còn góp phần nâng cao tính bền vững cho hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Điều chỉnh kế hoạch sản xuất, mật độ thả nuôi và quy trình kỹ thuật phù hợp với diễn biến thị trường cũng là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế. Ảnh: Hồng Thắm.
Điều chỉnh kế hoạch sản xuất, mật độ thả nuôi và quy trình kỹ thuật phù hợp với diễn biến thị trường cũng là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh tế. Ảnh: Hồng Thắm.

Một giải pháp khác được nhấn mạnh là tăng cường kết nối giữa người nuôi, doanh nghiệp sản xuất giống, thức ăn, các nhà khoa học và cơ quan quản lý thông qua các diễn đàn, hội thảo chuyên đề.

Đặc biệt, người nuôi nên chủ động ký kết các hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp cung ứng thức ăn, con giống, vật tư và dịch vụ vận tải. Việc liên kết từ sớm sẽ giúp ổn định chi phí đầu vào, hạn chế rủi ro trước những biến động khó lường của thị trường nhiên liệu trong nước và quốc tế.

Song song với đó, các địa phương cần tăng cường quản lý thị trường vật tư phục vụ nuôi trồng thủy sản; khuyến khích các cơ sở sản xuất tận dụng nguồn nguyên liệu thay thế từ phụ phẩm nông nghiệp, phụ phẩm chế biến thực phẩm hoặc các nguyên liệu mới nhằm giảm áp lực phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.

Chỉ đạo các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thức ăn thủy sản, vật tư đầu vào thực hiện nghiêm việc kê khai, niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ theo đúng quy định của Luật giá và các văn bản hướng dẫn liên quan.

Ngoài ra, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định trong chuỗi sản xuất thủy sản; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi găm hàng, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý hoặc kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng. Kết quả xử lý cần được công khai theo quy định để bảo vệ quyền lợi của người nuôi.

“Trong bối cảnh giá vật tư đầu vào tiếp tục biến động khó lường, khả năng cạnh tranh của người nuôi tôm sẽ không chỉ phụ thuộc vào giá bán sản phẩm mà còn ở năng lực kiểm soát chi phí, chủ động thích ứng và xây dựng các liên kết bền vững trong chuỗi cung ứng”, ông Khôi nhấn mạnh.

Ông Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết: “Bên cạnh việc điều chỉnh quy trình kỹ thuật và tiết giảm chi phí, việc chủ động ký kết các hợp đồng cung cấp vật tư, thức ăn và con giống dài hạn được xem là giải pháp quan trọng giúp người nuôi tôm ổn định chi phí đầu vào, hạn chế rủi ro trước những biến động khó lường của thị trường”.

Người nuôi tôm vùng ĐBSCL đối mặt áp lực “kép”

Trao đổi với Báo Nông nghiệp và Môi trường, ông Ngô Minh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Tuấn Hiền (xã Tân Phú Đông, tỉnh Đồng Tháp), chia sẻ bức tranh ảm đạm của thủ phủ tôm miền Tây ngay trong giai đoạn chính vụ. Xu hướng sụt giảm giá kéo dài suốt hơn 3 tháng qua và chưa có dấu hiệu dừng lại, khiến sinh kế của hàng ngàn hộ dân bị ảnh hưởng.

Hiện nay, giá tôm thương phẩm trên thị trường đã rớt xuống mức thấp kỷ lục. Cụ thể, tôm kích cỡ (size) 30 con/kg chỉ còn dao động quanh mức 118.000 đến 120.000 đồng/kg. Ngay cả những loại tôm có kích cỡ lớn, vốn thường mang lại lợi nhuận cao như size 25 con/kg, hiện cũng chỉ được thu mua với mức giá khoảng 128.000 đồng/kg. Khốc liệt hơn, tôm size 40 con/kg đã mất mốc 100.000 đồng, hiện sụt chỉ còn hơn 90.000 đồng/kg.

Theo ông Ngô Minh Tuấn, nguyên nhân cốt lõi là do năng lực và nhu cầu thu mua tại các nhà máy chế biến xuất khẩu đang ở mức thấp. Trong khi đó, khu vực lại bước vào vụ thu hoạch chính, lượng tôm dồi dào dẫn đến cung vượt quá cầu, đẩy giá sụt giảm liên tục theo từng ngày.

Tại Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Tuấn Hiền, lượng tôm kích cỡ lớn trong các ao nuôi hiện còn rất nhiều và đã đến kỳ thu hoạch. Dù liên tục chủ động đàm phán với đối tác và khách hàng, song doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận bán ra với mức giá rất thấp do áp lực đến lứa, không thể tiếp tục neo tôm trong ao vì sẽ làm tăng chi phí thức ăn và rủi ro dịch bệnh.

Hồng Thắm – Minh Đãm (Nông Nghiệp Việt Nam)

Bài viết liên quan

Xuất khẩu cá rô phi

Xuất khẩu cá rô phi Việt Nam T5/2026

Xuất khẩu cá rô phi Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 5/2026 với kim ngạch đạt 14 triệu USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi đạt 62 triệu USD, tăng trưởng 101% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của ngành hàng này trên thị trường quốc tế.

Bài viết mới nhất

Sản phẩm nổi bật