
Từ lợi thế mặt nước hồ thủy điện, khuyến nông Đà Nẵng đồng hành cùng người dân vùng cao phát triển nuôi cá lồng bè, mở hướng sinh kế mới.
Phụ lục
ToggleKhai thác lợi thế mặt nước
Các xã miền núi phía tây Đà Nẵng có nhiều hồ thủy điện, thủy lợi là những điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi cá lồng bè. Tại xã Trà Đốc, sau khi thủy điện Sông Tranh 2 tích nước, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư nuôi cá lồng bè với các loại cá như diêu hồng, cá chình, cá thát lát… Nguồn nước sạch, môi trường lòng hồ thông thoáng là những lợi thế để phát triển thủy sản nước ngọt.
Ông Trần Thanh Tuân ở xã Trà Đốc là một trong những hộ tiên phong nuôi cá lồng bè trên hồ thủy điện Sông Tranh 2. Sau 3 năm nuôi, vụ đầu tiên xuất bán ông thu hoạch gần 2 tấn cá chình, doanh thu gần 1 tỷ đồng, lợi nhuận hơn 500 triệu đồng.
“Nuôi cá trên lòng hồ Sông Tranh 2 có nhiều lợi thế. Nguồn nước tự nhiên, môi trường thông thoáng giúp cá sinh trưởng nhanh. Lòng hồ được cách ly với môi trường bên ngoài nên nguy cơ dịch bệnh cũng thấp hơn”, ông Tuân chia sẻ.
Tuy nhiên, với phần lớn người dần miền núi còn thiếu kinh nghiệm, việc tự bỏ vốn đầu tư ban đầu luôn đi kèm nhiều rủi ro. Nhận diện rõ khó khăn này, Trung tâm Khuyến nông TP Đà Nẵng đã triển khai các mô hình hỗ trợ nhằm tiếp sức cho người dân vùng lòng hồ thủy điện đổi mới sinh kế, đặc biệt là những hộ bị thu hẹp đất sản xuất do các công trình thủy điện.
Ông Phạm Hữu Quốc ở thôn 2, xã Trà Đốc trước đây chủ yếu đánh bắt thủy sản trong lòng hồ, cuộc sống còn bấp bênh. Tháng 6/2026, ông được Trung tâm Khuyến nông TP Đà Nẵng hỗ trợ 7.200 con giống cá diêu hồng cùng toàn bộ thức ăn để nuôi trong hai lồng bè, tổng diện tích mặt nước 150m2.
Lần đầu nuôi cá lồng bè, ông Quốc được cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật từ chăm sóc cá đến kiểm soát môi trường nước nên đàn cá đang sinh trưởng, phát triển tốt.

“Cán bộ khuyến nông hướng dẫn chúng tôi bảo đảm môi trường sống cho cá. Tôi rất kỳ vọng mô hình đạt hiệu quả khi thu hoạch sau 5 tháng để có thể tiếp tục mở rộng, tạo sinh kế ổn định hơn”, ông Quốc chia sẻ.
Trong đợt kiểm tra mô hình mới đây, cán bộ Trung tâm Khuyến nông TP Đà Nẵng ghi nhận đàn cá sinh trưởng tốt, tỷ lệ hao hụt thấp, trọng lượng cá đạt yêu cầu. Cán bộ kỹ thuật cũng hướng dẫn ông Quốc thực hiện sang lồng cho cá theo đúng thời điểm, bảo đảm không gian nuôi phù hợp, hạn chế cá bị xây xát và tiếp tục theo dõi tốc độ sinh trưởng trong những tháng tiếp theo.
Tạo sinh kế bền vững
Từ năm 2021, Trung tâm Khuyến nông TP Đà Nẵng đã triển khai các mô hình nuôi cá diêu hồng, cá thát lát cườm, cá lăng lồng bè gắn với tiêu thụ sản phẩm trên hồ thủy điện tại các địa bàn miền núi như Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn (cũ).
Các mô hình áp dụng quy trình nuôi an toàn, tận dụng mặt nước hồ thủy điện, hướng đến tạo sinh kế bền vững. Kết quả cho thấy tỷ lệ cá sống đạt từ 70% trở lên, lợi nhuận khoảng 25 – 30 triệu đồng/lồng, cao hơn 20% so với sản xuất đại trà.
Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, các mô hình còn góp phần tạo việc làm, chuyển đổi sinh kế, tăng thu nhập cho người dân vùng cao. Kết quả thực tế cũng tạo thêm cơ sở để người dân và địa phương nhân rộng mô hình, từng bước biến mặt nước lòng hồ thành nguồn lực phát triển kinh tế.
Theo ông Nguyễn Đình Vương, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Khuyến nông TP Đà Nẵng, trong lĩnh vực thủy sản, đơn vị ưu tiên các mô hình nuôi lồng bè trên hồ thủy điện, nuôi cá nước ngọt và thủy đặc sản phù hợp với điều kiện từng vùng.

Khuyến nông không chỉ chuyển giao kỹ thuật mà đồng hành với người dân trong suốt quá trình hình thành và phát triển mô hình.
“Trung tâm sẽ đồng hành với người dân từ khảo sát nhu cầu, lựa chọn địa điểm và hộ tham gia, xây dựng quy trình kỹ thuật, tập huấn, cung ứng một phần giống, vật tư thiết yếu theo quy định, hướng dẫn trực tiếp, tổ chức hội thảo đầu bờ, tham quan học tập và đánh giá hiệu quả sau mô hình”, ông Vương cho biết.
Trung tâm Khuyến nông TP Đà Nẵng phát huy vai trò của tổ Khuyến nông cộng đồng, hợp tác xã, tổ hợp tác và cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã, đồng thời kết nối doanh nghiệp, cơ sở tiêu thụ, chương trình OCOP và xúc tiến thương mại để hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm. Qua đó mở hướng sinh kế mới bền vững cho người dân vùng cao gắn với bảo tồn đa dạng sinh học.
Lan Anh (Nông Nghiệp Việt Nam)






